Tự do và hoà b́nh

 

 

Có người bảo tự do là muốn làm ǵ th́ làm, điều đó đúng không? Nếu như tự do muốn làm ǵ th́ làm sẽ dẫn tới thảm hoạ khủng khiếp trong nhân loại. Như vậy, Tự do là ǵ và liên hệ tới hoà b́nh ra sao?

Tự do là một ân huệ Thiên Chúa ban cho con người, tự do của người này có sự liên hệ mật thiết với quyền lợi người khác. Từ buổi đầu tạo dựng con người đă được tạo dựng cho nhau và v́ nhau. Con người không ai là một ốc đảo, nhưng xây dựng thành một cộng đoàn liên hệ mật thiết với nhau. Con người lănh trách nhiệm với nhau và từ tội một người mà muôn người phải chết, đó là hệ quả tất yếu của tự do. Liên đới trong tội con người cũng liên đới trong ân sủng, nếu v́ một người mà muôn người phải chết th́ cũng nhờ một người muôn người được sống. Như vậy khi liên kết với nhau trong ân sủng cũng như trong tội th́ sự tự do của cá nhân cũng có giới hạn cần thiết để mưu ích cho vấn đề chung của nhân loại. Giáo Lư Công Giáo dạy:

“Tự do không phải là muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm. Quan niệm "con người là một chủ thể tự do, tự túc tự mãn, chỉ cần lo cho lợi ích riêng mình bằng cách lo hưởng thụ các lạc thú trần thế[1]  là điều sai lầm. Mặt khác, những điều kiện về kinh tế và xã hội, chính trị và văn hoá cần thiết để thực thi tự do cách chính đáng, lắm khi bị phủ nhận và vi phạm. Những sự mù quáng và bất công này làm băng hoại đời sống luân lý và tạo dịp cho kẻ mạnh cũng như người yếu phạm tội nghịch đức ái. Khi xa lìa luật luân lý, con người làm thương tổn tự do của chính mình, làm nô lệ cho tính ích kỷ. cắt đứt tình huynh đệ với đồng loại và nổi loạn chống lại ý Chúa”[2].

Tự do đi với lương tâm trách nhiệm, lương tâm như bản ghi khắc đầu tiên trong tâm khảm mỗi người một trật tự để sống với nhau. Lương tâm hướng dẫn tự do theo luật tự nhiên, để mỗi người biết cách sống hài hoà với nhau.

"Điều gì Luật đòi hỏi, thì đã được ghi khắc trong lòng họ và lương tâm họ cũng chứng thực điều đó" (Rm 2,15).

Mỗi người được sinh ra trên trái đất có một sứ mệnh, bạn có tin điều ấy không? Đó là một điều rất cơ bản trong đời sống con người. Nguyễn Du viết: “Cái tài là cái quư, không ai mà không có tài”. Khả năng của mỗi người có khác nhau, dù rằng khả năng của một số người có mực rất thấp, nhưng trong sự liên đới vẫn có một giá trị đặc biệt. Xă hội là đất trồng, nếu một xă hội là loại đất tốt, con người được sinh ra sẽ nhận được sự chăm sóc cần thiết của đất dưỡng ấy. Giáo Hội nh́n nhận:

“Trong ý định của Thiên Chúa, mọi người sinh ra là để được phát triển, vì mỗi đời sống là một sứ mệnh. Thực vậy, từ khi mới sinh ra, mỗi người đã được những đức tính và năng khiếu như những mầm mống phải vun trồng cho lớn lên: nhờ giáo dục của xã hội hay cố gắng riêng của mình, những đức tính và năng khiếu đó lớn mạnh để giúp mỗi người đạt tới vận mệnh mà Đấng Tạo Hoá đã dự định cho. Vì có trí tuệ và tự do, nên con người có trách nhiệm về sự tiến triển cũng như về sự cứu rỗi của mình. Họ được các nhà giáo dục và những kẻ sống quanh mình giúp đỡ, nhưng đôi khi cũng bị chính những người ấy gây trở ngại. Dù ảnh hưởng đó thế nào đi nữa thì sự thành công hay thất bại của mỗi người cũng là chính do mỗi người tạo nên. Mỗi người có thể nhờ trí thông minh và ý chí mà lớn lên trong nhân tính, mà có thêm giá trị, mà sống ra người hơn”[3].

Giá trị sống và quyền được sống mỗi người có quyền như nhau, tận diệt sự sống của người khác bằng cách phá thai, chiến tranh, khủng bố là vi phạm đến quyền sống người khác. Không dùng bạo lực để ép buộc tự do của người khác, không thể dùng bạo lực để buộc người khác quy thuộc về ḿnh.Việc thâu họp mọi người chỉ có thể thực hiện bằng chân lư và bằng t́nh yêu. Chính Đức Giêsu đă thể hiện sự thâu họp này bằng việc hiến thân của Ngài trên Thập Giá. Tiếng nói của t́nh yêu và chân lư là tiếng nói của việc trả giá. “Quả thực, Nước Người không được bảo vệ bằng vũ khí, nhưng được thiết lập do việc làm chứng cho chân lý và đón nghe theo chân lý, được bành trướng nhờ tình yêu, tình yêu mà nhờ đó Chúa Ki tô khi bị treo trên thập giá đã kéo mọi người lên với Người (x.Ga 12,32)”[4].

Tự do cần được quy chiếu về chân lư, nếu không tự do sẽ trở thành vấn đề không kiểm soát nổi. Để thắng cử trong cuộc bầu tổng thống, người ta dùng chiêu bài tự do đồng tính, tự do hôn nhân, phá thai để đáp ứng theo một số đông lá phiếu cử tri là một hành vi phi nhân. “Tự do đích thực cũng không được cổ vũ trong một xã hội dung túng , xã hội này lẫn lộn tự do với việc được phép làm bất cứ điều gì, và nhân danh tự do, nó công bố một thứ phi luân lý chung. Thật là một biếm hoạ của tự do khi cho rằng người ta được tự do tổ chức đời sống mình mà không quy chiếu về các giá trị luân lý và cho rằng xã hội không có bổn phận bảo vệ và thăng tiến các giá trị đạo đức. Một thái độ như thế sẽ phá huỷ tự do và hoà bình”[5].

Chân lư và sự thiện là một, không thể có nhiều chân lư, chân lư hướng dẫn hoà b́nh và để thực thi hoà b́nh con người cần thực thi chân lư.

“Giáo Hội không phải không biết đến những nguy cơ của thái độ cuồng tín hoặc chủ trương bảo thủ tôn giáo của những người nhân danh một ý thức hệ tự nhận là có tính khoa học hay tôn giáo, cho rằng có thể áp đặt cho người khác quan niệm của mình về chân lý và sự thiện. Chân lý của Ki tô giáo không thuộc loại này. Vì không phải là một ý thức hệ, nên đức tin Ki tô giáo không hề tìm cách giam hãm những thực tại xã hội và chính trị, là những thực tại hay thay đổi, vào một khuôn mẫu cứng ngắc, nhưng nó nhìn nhận rằng cuộc đời con người diễn ra trong lịch sử bằng những cách thế khác nhau và không hoàn hảo. Nhưng khi Giáo Hội thường xuyên tái khẳng định phẩm giá siêu việt của con người, thì quy luật hành động của Giáo Hội bao giờ cũng là tôn trọng sự tự do”[6].

Hoà b́nh như một bức tranh vẽ của một người lính, chiếc cầu bị nổ tung, bên dười cầu xa xa những đứa trẻ đang thả diều. Hoà b́nh cũng giống như câu chuyện con chim đang hót giữa bầu trời bom đạn bay chồng chéo…Hoà b́nh được Công Đồng vat II phác hoạ:

“Hoà bình không hẳn là vắng bóng chiến tranh, cũng không chi được giản lược vào thế quân bình giữa các lực lượng đối nghịch, cũng không phát xuất do một nền cai trị độc tài, nhưng theo đúng định nghĩa thì hoà bình là "công trình của công bằng" (Is 82,7). Hoà bình là kết quả của một trật tự đã được chính Thiên Chúa, Đấng Sáng Lập, ghi khắc vào xã hội loài người và phải nhờ những người luôn luôn khao khát một nền công bằng hoàn hảo hơn, thể hiện ra trong hành động.

Thật thế, mặc dù tự bản chất công ích của nhân loại dĩ nhiên phải được định luật đời đời quy định, tuy nhiên trong những đòi hỏi cụ thể của nó, công ích phải chịu sự thay đổi không ngừng theo diễn biến của thời gian. Do đó, hoà bình không bao giờ đạt dược một lần là xong, nhưng phải xây dựng mãi mãi. Hơn nữa, vì ý chí của con người yếu đuối và bị tội lỗi làm tổn thương, nên muốn có hoà bình, mỗi người phải luôn luôn kiềm chế dục vọng của mình và chính quyền phải canh phòng cẩn thận. Nhưng như thế chưa đủ! Hoà bình ấy sẽ không có được trên trần gian, nếu lợi ích của từng cá nhân không được bảo vệ và nếu mọi người không tự do và tin tưởng san sẻ với nhau những của cải trí tuệ và tài năng của mình, chí cương quyết muốn tôn trọng người khác, những dân tộc khác nhau cũng như phẩm giá của họ và sự ân cần thực thi tình huynh đệ là những điều kiện thiết yếu để xây dựng hoà bình. Như thế, hoà bình cũng là kết quả của tình thương, một thứ tình thương vượt xa những gì công bằng có thể đem đến. Phát sinh từ tình yêu tha nhân, hoà bình trần gian là hình ảnh và là kết quả của hoà bình Chúa Ki tô, hoà bình do Đức Chúa Cha mà đến.

Vì chính Chúa Con Nhập Thể là Thái Tử hoà bình đã dùng thập giá Người để hoà giải mọi người với Thiên Chúa ; Người đã tái lập sự hiệp nhất mọi người thành một dân tộc và một thân thể. Người đã huỷ diệt hận thù trong chính thể xác Người, và sau khi đã Khải hoàn phục sinh, Người đã đổ tràn Thánh Thần Tình Yêu đầy lòng con người. Do đó, trong khi "sống theo sự thật và trong mình bác ái" (Ep 4,15), mọi Ki tô hữu được khẩn thiết kêu mời hãy kết hợp với những người thực sự yêu chuộng hoà bình để cầu khấn và thiết lập hoà bình. Cũng trong tinh thần đó, chúng tôi không thể không ca ngợi những ai từ khước bạo lực để tranh đấu cho quyền lợi mình mà không dùng bạo động, nhưng dùng những phương tiện tự vệ sẵn có ngay cả cho những người yếu kém, miễn sao không hại đến quyền lợi và bổn phận của người khác hay của cộng đồng”[7].

Trong thư gửi cho các bạn trẻ sẽ tụ họp tại Đức vào năm 2005, Đức Giáo Hoàng nói với các bạn trẻ: "Minh chứng cho ḥa b́nh, dạy dỗ cho ḥa b́nh”. Đó là một "sự cam kết khẩn cấp hơn bao giờ cho thời đại chúng ta, trong đó những nguy hiểm và những đe dọa cho sự sống chung hoà b́nh tiếp tục c̣n hiện hữu dưới ṿm trời này”.[8]

“Những bất công, những bất bình đẳng thái quá về kinh tế hoặc về xã hội, lòng ganh tị, nghi ngờ và kiêu căng đang hoành hành nơi những con người và những quốc gia; đó là mối đe doạ thường xuyên cho hoà bình và nguyên nhân của chiến tranh. Tất cả những gì ta có thể làm để thắng vượt những hỗn loạn đó, sẽ góp phần xây dựng hoà bình và tránh được chiến tranh : Vì con người ta là kẻ tội lỗi nên hiểm hoạ chiến tranh còn đó và sẽ còn mãi cho tới ngày Chúa Ki tô trở lại Nhưng theo mức mà, hiệp nhất với nhau trong tình thương, người ta thắng vượt được tội lỗi, thì cũng thắng vượt được bạo động cho tới khi lời sau đây được thực hiện:“Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau, và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến" (Is 2,4).[9]


Joshkimt

[1] Huấn thị về Thần học giải phóng, số 13

[2] (Giáo lý Hội Thánh Công giáo, số 1740).

 

[3] Thông điệp Phát triển các dân tộc, số 15.

 

[4] Tuyên ngôn về Tự do tôn giáo, số 11

[5] Sứ điệp Ngày thế giới hoà bình, 1981, số 7

[6] Thông điệp Bách chu niên số 46

[7] Hiến chế Vui mừng và Hy vọng, số 78

[8] Zenit.org

[9] Giáo lý Hội Thánh Công giáo, số 2317