Không ở đâu khác, điều học làm
người trước tiên là ở gia đ́nh, cũng không
ở đâu khác, điều học để sống
với nhau là hiếu đễ. Hiếu là thảo kính cha
mẹ, đễ là yêu mến anh chị em. Hiếu như
chiều dọc và đễ như chiều ngang. Con người
có hai chiều kich chiều dọc và chiều ngang, đầu
đội trời và chân đạp đất. Có là người
hiếu đễ mới sống xứng với phẩm cách
của con người. Sách Luận ngữ là cuốn sách
ghi chép lại những lời nói của Khổng phu
Tử. Từ thiên đầu tiên vào sách
Khổng Tử đă nhấn mạnh đến
việc học đạo làm người, cùng học
nền tảng của đạo đức. Hiếu
với cha mẹ và yêu mến anh chị em là gốc
của đạo nhân và là nền của đạo đức.
Mạnh Vũ Bá hỏi đạo hiếu,
Khổng Tử đáp: “phụ mẫu duy kỳ tật
chi ưu”; cha mẹ chỉ lo cho con có bệnh tật.
Cha mẹ lo cho con đủ điều, trong các
điều lo nhất theo Khổng Tử dạy cho Mạnh
Vũ Bá là cái lo cho con bị bệnh tật. Theo chú
giải của Chu Hy, Mạnh Vũ Bá là con nhà giàu sang, chơi
bời quá độ, thường hay đau ốm, nên
Khổng Tử dạy cho như thế. Như vậy, trong
trường hợp này, hiếu có nghĩa là phải
giữ ǵn thân xác và tinh thần mà mẹ cha đă cho ta.
Giữ ǵn và làm cho thân này sáng trong chứ không làm cho thân
này phải hư đi là một điều hiếu.
Giữ cho thân này khỏi hư, tránh cho thân này khỏi
điều xấu, và làm cho thân này được
mọi người tôn trọng là hiếu.
Hiếu không chỉ là dưỡng mà c̣n là kính.
“Tử Du văn hiếu, Tử viết: “Kim chi hiếu
giả, thị vị năng dưỡng, chí ư
khuyển mă, giai năng hữu dưỡng, bất kính hà
dĩ biệt hồ”[1].
Trần Trọng Kim dịch chương thứ bảy này
như sau: “Hiếu ngày nay là bảo có thể nuôi
được cha mẹ; đến như giống chó
giống ngựa đều có người nuôi, nuôi mà không
kính th́ lấy ǵ mà phân biệt?”[2].
Phan Bội Châu th́ dịch: “người con hiếu ở
đời nay, thông thường chỉ khen ở việc
hay phụng dưỡng cha mẹ. tuy nhiên, chỉ biết
một việc hay nuôi mà thôi, thời thử xem người
trong một nhà, từ chức phận người làm con
trở xuống, cho đến như con chó con ngựa, nó
cũng biết đem năng lực của nó mà cung
phụng chủ nhà, thảy hay có một cách nuôi người
cả. nếu như con nuôi cha mẹ mà không biết cung kính,
lấy ǵ khác được chó ngựa nữa ư?”[3].
Ḷng thành kính không hệ tại ở việc giàu nghèo, ai
cũng có thể thành kính, người có ḷng thành kính
dẫu có dưỡng cha mẹ bằng gạo xấu,
uống nước lă, th́ cha mẹ vẫn vui. Ḷng thành kính
hoàn thành chữ hiếu. Phụng dưỡng với ḷng
thành kính không là bố thí với sắc mặt nhăn nhó,
miễn cưỡng, Hiếu kính xuất phát từ
thực tâm, tự nguyện, người Việt hay thường
dùng chữ phải ngay cả khi tự nguyện làm
những việc tốt. Điều tự nguyện,
thực tâm không là bắt buộc, không dùng chữ
phải, mà là niềm vui thúc đẩy. Ở chương
tám ngay sau khi nói về ḷng thành kính, Khổng Tử c̣n
dạy cho Tử Hạ biết thêm ḷng thành kính ấy c̣n
được tỏ lộ qua sắc mặt trong khi
phụng dưỡng cha mẹ, nhất là khi gặp hoàn
cảnh khó khăn: “Tử hạ hỏi đạo
hiếu: Khổng Tử đáp: “Khi thờ cha mẹ, duy có
sắc mặt (hoà vui) là khó”[4].
Sách Lễ kư, Khổng Tử bàn thêm: “Xuyết thúc
ẩm thuỷ, tận kỳ hoan, tư chi vị hiếu”[5].
Người Hiếu kính những sợ
thời gian trôi mau, tuổi già của cha mẹ đến
sớm, biết để mừng tuổi cha mẹ nhưng
cũng biết để lo sợ thời gian đến
mau: “phụ mẫu chi niên, bất khả bất tri dă;
nhất tắc dĩ hỷ, nhất tắc dĩ cụ”[6].
Tuổi của cha mẹ, không nên không biết: một là
để mừng, một là để sợ. Vừa
mừng vừa sợ, mừng v́ cha mẹ c̣n thọ
với con cháu, vừa sợ v́ ngày của cha mẹ
gần kề. Mỗi ngày càng tiến đến gần hơn
sự chết. Thông thường, ḷng hiếu đạo
của người b́nh dân kỵ chữ chết, họ thường
nói ngày mất, ngày về, ngày ra đi… để tránh
từ chết.
Chính v́ quư mến những thời gian khi cha
mẹ c̣n sống mà người con hiếu thảo có hai
điều chú ư: một là vô vi (Không trái lễ khi
phụng hiếu trong cảnh thường) và hai là vô
cải (Không thay đổi ngay cái đạo của cha
mẹ khi cảnh biến). Khổng Tử viết : “Tam niên
vô cải ư phụ chi đạo khả vi hiếu
hỷ”[7];
Trong ba năm không thay đổi đạo của cha,
đáng gọi là hiếu vậy. Tại sao là ba năm?
đó là thời gian thọ tang cha mẹ mà người
con hiếu kính ghi nhớ.
Vô vi, Khổng Tử trả lời Mạnh Ư
Tử khi hỏi hiếu. Phàn Tŕ không hiểu thế nào là
vô vi, nên hỏi lại, Khổng Tử cho hay: “sinh sự
chi dĩ lễ. Tử táng chi dĩ lễ, tế chi dĩ
lễ”[8];
“cha mẹ sống, phụng sự cho hợp lễ. Cha
mẹ mất, tống táng cho hợp lễ; tế cho
hợp lễ”. Lễ là trọng tâm của việc
thực hành hiếu. người con phụng hiếu có
Lễ là người con một ḷng trước như sau,
tôn kính hết ḷng, lúc giàu cũng như lúc nghèo, lúc cha
mẹ c̣n sống cũng như khi cha mẹ qua đời.
Tuỳ theo hoàn cảnh mà giữ lễ cho trung dung, không thái
quá cũng như không bất cập, một vừa hai
phải mà không trái lễ.
Lấy Lễ phụng hiếu c̣n đ̣i
buộc người con có hiếu lấy lẽ phải mà
theo, hoặc nếu cha mẹ làm sai trái, có lỗi, người
con cần nhẹ nhàng lấy lẽ phải mà can gián, không
hùa theo cái sai lỗi của cha mẹ là người con có
hiếu. “Sự phụ mẫu ky gián, kiến chí bất
ṭng, hựu kính bất nghịch; lao nhi bất oán”[9].
Biết cha mẹ làm sai là phụng, không theo cha mẹ làm
sai là dưỡng, dùng lời nhẹ nhàng khuyên ngăn là
hiếu, dù khuyên ngăn cha mẹ không nghe theo mà vẫn
một ḷng yêu kính là tôn chỉ của đạo
hiếu. Đạo hiếu là như thế, như một
kỷ cương để uốn nắn chính bản thân
của người con hiếu. Đường đi
của Hiếu đạo là lẽ phải, không thiên
về t́nh cảm, để nói cái sai là điều đúng.
Hiếu không phải cứ cha làm là con theo,
cứ vua làm là quân hành. Sách Nho Giáo của Trần
Trọng Kim có bàn: Ai Công nước Lỗ, có lần
hỏi Khổng Tử: “Con theo mệnh cha có phải là
hiếu không? Tôi theo mệnh vua có phải là Trung không?”
hỏi đến ba lần Khổng Tử không đáp. Ra
ngoài Khổng Tử hỏi thầy Tử Cống, Tử
Cống thưa: “Con theo mệnh cha là hiếu, tôi theo
mệnh vua là trung, c̣n ngờ ǵ nữa” - Khổng Tử
nói: “ngươi không biết ǵ. đời xưa vua minh
quân làm vua nước vạn thặng có tránh thần
bảy người, th́ vua không làm điều lỗi; làm
vua nước thiện thặng, có tránh thần ba người,
th́ lộc vị không suy. Cha có tránh tử, th́ không hăm vào
điều vô lễ; kẻ sĩ có tránh hữu, th́ không
làm điều bất nghĩa. Cho nên con theo mệnh cha há
đă là hiếu, tôi theo mệnh vua há là đă trung.
Chỉ có biết xét cái đáng theo mà theo, mới gọi
là hiếu, là trung vậy”[10].
Đạo hiếu không dạy người con làm sai, cũng
không dạy v́ nghĩa mà làm sai, cứ đường
ngay chính trực mà đi. Sai th́ uốn, lỗi th́
sửa, ấy cũng là tính cách của người quân
tử.
Thế nhưng, có một điều tế
nhị khác Khổng Tử dạy đạo hiếu cũng
cần giữ đạo Trung Dung. Diệp Công hỏi
Khổng Tử: “xóm chúng tôi có người cứ
lấy cái thẳng mà khiến ḿnh; cha đi ăn trộm
dê, mà con đi làm chứng”. Khổng Tử trả
lời: “người hàng xóm chúng tôi khác thế; cha che
chở cho con, con che chở cho cha, cái trực ở trong
đó vậy”. Nói thế, Khổng Tử muốn dạy
học tṛ: Đừng lấy cái điều dậy mà bêu
xấu nhau; “cha che chở con, con che chở cha”; ở
đây, Khổng Tử muốn nói rằng ngoài sự
thật c̣n một nghĩa vụ khác, là tôn trọng
phẩm giá của nhau. Cha che chở phẩm giá cho con, con
che chở phẩm giá cho cha. Can gián, nhưng cẩn
thận giữ ǵn phẩm giá của người
được sửa dậy. Như vậy, hàm ư khi
sửa dậy cho nhau cần có sự riêng tư, không công
khai ồn ào, không công khai chống phá, không làm mất
danh dự của một con người. Con người chính
trực là thế, nếu thiếu trung dung, thiếu tế
nhị con người sẽ làm mất phẩm giá của
nhau. Cha sẽ kiện con và con sẽ kiện cha làm mất
đi con đường ngay của hiếu. Không v́
hiềm oán mà bôi lọ, làm xấu nhau, nhưng v́ nghĩa
mà chỉ bảo, uốn nắn, hướng dẫn nhau.
Người sửa dậy và người được
sửa dậy đều được tôn trọng như
nhau. Thiếu tôn trọng, con người làm cái đúng này
lại vấp phải một cái sai khác. Đây là cái
lẽ của đạo hiếu, sống hiếu mà đạt
nhân, sống nhân mà đạt hiếu, Khổng Tử nói:
“người quân tử hậu với cha mẹ th́ dân
hứng khởi làm điếu nhân; không bỏ sót
những người cố cựu, th́ dân không có bạc
tục”[11].
Gốc của đạo nhân là ái và kính,
lấy ái và kính làm nền cho hiếu đễ th́ đạo
hiếu phát triển, Khổng Tử nói: “Dựng ḷng ái
khởi từ cha mẹ, là dạy dân hoá mục vậy.
Dựng ḷng kính khởi đầu từ người huynh
trưởng, là dạy dân kính thuận vậy. Lấy
từ mục mà dạy dân, th́ dân quư có cha mẹ;
lấy kính người huynh trưởng mà dạy dân, th́
dân biết quư sự theo mệnh lệnh người trên.
Hiếu là để thờ cha mẹ, thuận là để
vâng mệnh người trên, đem những điều
ấy mà thi thố ra thiên
hạ, th́ không có điều ǵ mà không làm được”
(Lễ kư: Tế nghĩa, XXIV)[12].
Khổng Tử xây dựng ái theo chiều hướng
từ cha mẹ, kính từ người huynh trưởng là
bao gồm cho hiếu và đễ. Ái và kính đều
xuất phát từ trong gia đ́nh, gia đ́nh không c̣n ái và
kính th́ không c̣n Lễ của đạo nhân. Muốn xây
dựng ḷng ái và kính là xây dựng từ trong tế bào
gia đ́nh, không có gia đ́nh sẽ mất ngọn
nguồn của t́nh thương và ḷng kính. Khoa học tâm
lư ngày nay phát triển đă chứng minh, nhân cách của
một con người là được định h́nh
ngay khi đứa trẻ lớn lên trong gia đ́nh từ
khi thai nhi cho đến khi trưởng thành. Muốn
giữ lấy đạo nhân là giữ lấy cái đạo
trong gia đ́nh, mà đạo trong gia đ́nh là đạo
hiếu đễ. Củng cố đạo hiếu là
củng cố lại giá trị của gia đ́nh.
Muốn xây dựng ǵ th́ xây dựng nhưng không thể
bỏ qua việc xây dựng những giá trị từ
trong gia đ́nh. Gia đ́nh, nơi đó, con người
bắt đầu là người và làm người. Không
có gia đ́nh, con người sẽ là mồ côi, cô
đơn, lạc lơng, ḱnh địch, thù oán, ghen ghét,
khủng bố, chém giết. Học lấy đạo
hiếu là học đào tạo lấy ḷng ái và kính
để h́nh thành đạo làm người, làm cha
mẹ, làm người huynh trưởng và làm con. Tŕnh
Tử nói rằng: “Hiếu đễ là đức hoà
thuận, nên người hiếu đễ chẳng ưa
xúc phạm đến người trên: sao lại làm
việc trái lẽ, loạn luân thường? Đức có
gốc, gốc đă gây dựng được th́ đạo
lư rộng lớn. Hiếu đễ ở trong nhà, mới
nhân ái đến mọi vật. Vậy nói thân với người
thân mà nhân với dân, nên làm đạo nhân lấy
hiếu đễ làm gốc. Bàn về tính, đem đạo
nhân làm gốc của hiếu đễ. Có người
lại hỏi: Hiếu đễ là gốc của đạo
nhân, vậy bởi hiếu đễ mà có thể đến
đạo nhân hay sao? Tôi trả lời không phải, làm
đạo nhân từ hiếu đễ trước,
hiếu đễ chỉ là một việc của đạo
nhân. nếu nói: hiếu đễ là gốc của
việc làm đạo nhân th́ phải; chứ nói hiếu
đễ là gốc của đạo nhân th́ không
phải. v́ nhân là tính, hiếu đễ là dụng (thi hành
ra công việc), trong tính có nhân, nghĩa, lễ trí, sao
lại có hiếu đễ? Song nhân chủ ở Ái (yêu),
yêu không ǵ lớn bằng yêu người thaân, nên
mới nói hiếu đễ là gốc của việc làm
đạo nhân”[13].
Sống hiếu đễ theo Khổng Tử là
đạt đạo làm nhân, sống đạt đạo
làm nhân là đạt đạo hiếu đễ. Không chú
trọng h́nh thức “giàu sang sinh lễ nghĩa” nhưng
cần thành thực, giản dị sống với nhau. Người
thực tâm muốn sống ngay thẳng và thực tâm yêu
thương người khác là người có đạo
nhân và có đạo hiếu.
Lm Giuse Hoàng Kim Toan
[1] Luận Ngữ 1, chương thứ bảy.
[2] Nho Giáo, quyển thượng, NXB Tân Việt, trang 140.
[3] Khổng Học Đăng, q 1, trang 205, NXB Anh Minh, Huế, 1957.
[4]
Luận Ngữ 1, chương thứ t ám.
[5]
Lễ kư: Đàn cung hạ.
[6]
Lụân Ngữ 1, chương XXI.
[7]
Luận ngữ 1, chương XX.
[8] Luận ngữ, Vi chánh, chương 5.
[9] Luận ngữ, Lư nhân, chương 18.
[10] Nho Giáo, quyển thượng, Trần Trọng Kim, NXB Tân Việt.
[11]
Luận ngữ, Thái bá, VIII.
[12]
Nho Giáo, quyển thượng, Trần Trọng Kim, NXB Tân
Việt.
[13]
Luận ngữ 1, Học Nhi, Chương 2.
Lm Giuse Ḥang Kim Toan