CẢM THỨC VỀ TÔN GIÁO TỪ GIỮA GIA Đ̀NH

Tại sao lại nói đến cảm thức tôn giáo từ giữa gia đ́nh? Gia đ́nh là trường dạy đức tin cho con cái đầu tiên và trên hết, không ai có thể thay thế cho gia đ́nh về trách nhiệm ấy. Gia đ́nh là một Hội Thánh tại gia, một cộng đoàn cơ bản để xây dựng xă hội.

1. Cảm thức, nói đến cả lư cả t́nh:

Cảm thức bắt nguồn từ kinh nghiệm. Kinh nghiệm là những ǵ đă va chạm, đă gặp gỡ, đă được nấu chín bằng sự trải qua để trở thành máu thành xương thành thịt. Nếu người Phương Tây suy nghĩ bằng cái đầu th́ người Đông Phương suy nghĩ bằng trái tim. Tuy thế , ca dao cũng cho thấy người Việt Nam cũng trọng cái lư chứ không phải bỏ qua cái lư mà lấy cái t́nh: “lấy chín bỏ làm mười” , số chín ấy có nghĩa là chín cái lư để thêm một chữ t́nh cho trọn nghĩa. Có t́nh và cũng có lư, t́nh đến từ lư, lư đến từ t́nh và làm trọn chữ lư. Nếu t́nh cảm là nguyên tắc làm tṛn đầy ư nghĩa của cuộc sống, th́ chữ t́nh ấy cũng đáng giá ngàn vàng bổ sung cho cái lư. Ví như con người ta có hai lá phổi, cũng cần thở một lá bằng truyền thống Tây phương và một lá khác thở hít bằng truyền thống Đông Phương. Lấy sự điều hoà làm cho cuộc sống thêm phong phú.

Chữ t́nh xuất phát từ kinh nghiệm trong truyền thống gia đ́nh của người Việt Nam .

Cha mẹ đối với con cái lấy chữ t́nh làm nguyên tắc truyền đạt, nên người Việt có nói về công cha nghĩa mẹ th́ cũng sánh ví : “Công cha như núi thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Cha biểu trưng cho lư trí, mẹ biểu trưng cho t́nh cảm; cha là nguyên tắc, mẹ là uyển chuyển; cha là núi, mẹ là ḍng suối. Nói thế thôi, để phân biệt theo cách của người Phương Tây; chứ thực ra theo cách nói của người Đông Phương là: cha cũng là núi và cũng là suối, lời trong một bài hát “Ơn cha” quen thuộc cho thấy điều đó: “Ơn cha như thái sơn cao bao từng, ngoài th́ cương quyết mà ḷng thương mến”. Cha là lư trí và cũng là t́nh cảm, t́nh cảm của người cha khó diễn tả bằng hành động hơn người mẹ, nhưng thực sự lại là thâm sâu: “Mất cha như nhà mất nóc”.

Nói đến cha th́ cũng nên nói đến mẹ, tác giả Nhất Hạnh trong bài viết “ Bông Hồng cài áo” nói: “Ư niệm về mẹ thường không thể tách rời ư niệm về t́nh thương. Mà t́nh thương là một chất liệu ngọt ngào, êm dịu và cố nhiên là ngon lành. Con trẻ thiếu t́nh thương th́ không lớn lên được. Người lớn thiếu t́nh thương th́ cũng không "lớn" lên được.” Mẹ là người giáo dục tài ba, vừa bằng triết lư vừa bằng t́nh thương cho nên cũng vừa nhẹ nhàng và cũng vừa cương quyết. Mẹ là bầu trới cha là ánh sáng mặt trời, trăng, sao. “Mẹ già như chuối ba hương. Như xôi nếp một, như đường mía lau.” Ví mẹ như chuối ba hương, đó là cách diễn đạt mộc mạc của nhà quê, từ kinh nghiệm đời thường của ḿnh: cây chuối chỉ trổ buồng một lần, rồi héo hon đi theo tuổi đời của buồng chuối lớn lên. Mẹ không chỉ cho con sự sống nhưng c̣n cho con cả cuộc đời của chính mẹ. T́nh thương của mẹ như một món xôi, được nấu lên từ chất liệu nếp hạng nhất, ăn một lần mà cứ nhớ măi. T́nh thuơng của người mẹ dành cho những đứa con là t́nh thương loại nhất, trở thành lương thực, trở nên nguồn nuôi sống những đứa con. Ngọt ngào như mía lau, một loại mía người nông dân trồng để làm chất liệu cho đường, ngọt và thanh như t́nh thương của người mẹ thấm và sâu.

 

2. Cảm thức tôn giáo:

T́nh cha nghiă mẹ nặng đầy như thế, mỗi ngày cứ thấm dần và ăn sâu trong ḷng người con làm nên cảm thức, cảm thức “thờ cha, kính mẹ” cũng lớn lên theo sự trưởng thành của người con. Cảm thức từ thế hệ này đến thế hệ khác lớn dần lên trở thành truyền thống gọi là đạo hiếu.

Cảm thức tôn giáo cũng theo nguồn chảy ấy phát sinh: trường hợp bà Rút là người con dâu của bà Na-o-mi nói với mẹ: “Mẹ đi đâu, con đi đó, mẹ ở đâu, con ở đó, dân của mẹ là dân của con, Thiên Chúa của mẹ là Thiên Chúa của con. Mẹ chết ở đâu, con chết ở đó và nơi đó con sẽ được chôn cất” (R 1, 16-17). Cảm thức tôn giáo của người con dâu bắt nguồn từ t́nh thương của bà mẹ chồng. Chính t́nh thương lôi kéo : Đạo của vua là đạo của dân, vua đươc coi là phụ mẫu của dân, vua theo đạo nào th́ dân theo đạo ấy. Lịch sử văn chương Việt Nam ghi lại ḍng văn chương Lư- Trần thấm nhuần triết lư Phật Giáo là một ví dụ.

 Đức Hồng y Ratzinger giúp chúng ta hiểu rằng: “Đức Tin tự nó là văn hoá. Không có đức tin trần trụi, cũng chẳng có văn hoá thuần tuư”.

Đức tin tự nó là văn hoá, người con tin vào cha mẹ bởi v́ niềm tin ấy đặt trên nền tảng t́nh thương cha mẹ dành cho ḿnh. Văn hoá Đông Phương ấy là văn hoá t́nh thương, “lấy t́nh thương cảm hoá”. Khởi đi từ ấy cũng có thể diễn dịch, rao giảng Tin Mừng bằng: từ cảm nghiệm về t́nh thương Thiên Chúa dành cho ḿnh đến truyền đạt cho người khác, có thể nói đó là cách thế rao giảng Tin Mừng trở nên hữu hiệu.

Đức tin tự nó là văn hoá: Một trong năm ư nghĩa của từ ngữ “Văn hoá” được từ điển tiếng Việt 2000 của Viện Ngôn Ngữ học là:“Văn hoá là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá tŕnh lịch sử” . Đức tin theo nghĩa đó là tổng thể những gía trị vật chất và tinh thần do Thiên Chúa sáng tạo, bày tỏ trong lịch sử thời gian. Một T́nh Thương khơi nguồn sáng tạo, đă được gieo vào trong trần thế từ khi Thiên Chúa sáng tạo nên con người. Con người là cao điểm diễn tả t́nh thương của Thiên Chúa trong công tŕnh tạo dựng. Người Do Thái nhận thức về Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ ngay trước khi tin nhận Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo. Cảm nghiệm về Thiên Chúa giải thoát cũng là Đấng Sáng tạo nên ḿnh, người Do Thái cũng nh́n từ thực tế, T́nh Thương của Thiên Chúa thể hiện trong lịch sử thời gian, đến việc tin nhận Thiên Chúa. Có con người là có văn hoá, văn hoá ấy từ khai nguyên đă được ướp trong t́nh thương của Thiên Chúa, qua việc sáng tạo nên con người. Người Việt nam lấy t́nh yêu thương làm gốc, cái gốc ấy là gia đ́nh, một gia đ́nh có ông, có bà, có cha, có mẹ, có anh, có chị có em, có chính ḿnh, có thể diễn tả gia đ́nh Thiên Chúa Ba Ngôi là có Thiên Chúa là Cha, có Ngôi Hai là Con, và Chúa Thánh Thần là T́nh Yêu. Xây dựng gia đ́nh đức tin là xây dựng gia đ́nh văn hoá bằng chất liệu t́nh yêu.

Cũng chẳng có văn hoá thuần tuư: Con người là chủ nhân của nền văn hoá có thể khai sinh, phát triển hay phá huỷ đi nền văn hoá ấy. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô có nói tới một cái nền văn hoá trong thời đại mới, đó là “nền văn minh sự chết”.   “Nền văn minh sự chết” được khai sinh bởi con người khi con người từ chối lẫn nhau. Cái từ chối lạnh lùng, khắc nghiệt nhất, là t́nh cảnh giữa các gia đ́nh: li dị, phá thai. Một nền văn minh tẩy chay từ giữa các gia đ́nh làm đảo lộn truyền thống: “thờ cha, kính mẹ”, từ khi cha mẹ giết hại con cái ngay từ phôi thai và gia đ́nh không c̣n là mái ấm để con trẻ được lớn lên trong yêu thương. Khoa tâm lư chứng minh rằng, phần lớn tính cách của con người được h́nh thành trong thời thơ ấu. Thời thơ ấu của con trẻ được cưu mang trong một gia đ́nh đổ gẫy, giết hại… th́ cũng tạo nên một “nền văn minh sự chết” sau này trong tương lai. “Nền văn minh sự chết” không những tiêu diệt sự sống thể lư của con người mà c̣n phá huỷ niềm tin vào Thiên Chúa. Sự phá vỡ này dẫn con người đến một vực thẳm đau khổ và chết chóc.

Giữ lấy gia đ́nh là giữ lấy niềm tin. Những nguy cơ của “văn minh hưởng thụ” đang đe doạ “Văn hoá t́nh thương” giữa gia đ́nh, đẩy gia đ́nh vào “văn minh sự chết” là có thật. Nên thế, viết những suy nghĩ này cũng muốn vọng lại niềm ước mongcủa tổ tiên: “giấy rách xin giữ lấy lề”, để có ǵ lưu lại là truyền thống.

 

 

Tân Hoà, Mùa Vọng 2001

 

Lm Giuse Ḥang Kim Toan