Giếng nước, một văn
hóa chung cho nhiều dân tộc, những giếng nước
nối linh thiêng vào đời mang theo h́nh ảnh của
ba cấp vũ trụ. Đất - Nước - Trời.
Ba cấp liên kết để mang lại sự sống,
theo G. Champeaux, giếng nước là một tiểu vũ
trụ: “Nó thông với nơi ở của người
chết, đó là chiều sâu của lóng đất;
tiếng vang từ đáy giếng dội lên, những ánh
phản xạ lóng lánh từ mặt nước dưới
sâu làm tăng thêm vẻ kỳ bí. Nh́n từ dười
lên cái giếng giống như kính thiên văn khổng
lồ, chĩa từ ḷng đất đến thiên
cực. Phức hệ đó thực hiện những bước
giải thoát nối liền với ba tầng thế
giới bên trên”
Giếng nước tượng trưng
cho sự phong phú dồi dào trong thiên nhiên. Những nơi
khô cạn, những ốc đảo xanh tươi
giữa hoang mạc cho thấy rơ nét nhất h́nh ảnh cái
giếng mang lại sự sống. Đối với người
Do Thái xưa, cái giếng là gia sản phép mầu của
tổ tiên để lại, ở đó người ta kín
nước để duy tŕ sự sống. Nhiều nơi
người ta cũng sát hại nhau để chiếm lĩnh
cái giếng nước.
Giếng nước mang trong nó
sự bí mật kỳ diệu của sự sống,
giếng cạn là một nguy cơ với sự sống c̣n
của một ốc đảo trong sa mạc, người
xưa tin rằng giếng nước cần được
nối với sự sống thần linh để duy tŕ
sự sống hiện tại. Tại các vùng viễn Đông
giếng nước là nơi âm phủ, một vực
thẳm hăi hùng.
Trong Kinh Dịch quẻ kép số 48
gọi là giếng, biểu lộ một giếng nước
đấy tràn không bị che đậy để diễn
tả một tâm hồn chân thật, thẳng thắn và
tựơng trưng cho sự hạnh phúc. Theo dominique Zahan,
giếng nước biểu lộ một tri thức, người
Bambara xem cái giếng trong đời sống tinh thần là
một biểu tượng tri thức, bờ giếng là
sự bí mật, ḷng giếng là sự im lặng.
chiều sâu của im lặng này là một sự trút
bỏ hết tất cả bợn nhơ để mang
lấy tinh anh của tư tưởng, dũng lực
của giai đọan siêu linh, tự chủ trong hành động,
lời nói bị ch́m theo và tan ra trong chính nó.
Giếng sâu biểu trưng cho sự hiểu biết tường tận, trong tác phẩm Chiêm tưởng cao siêu của Victor Hugo, G. Durand dẫn đọan: “Điều phi thường đó là ở trong chính ḿnh mà nh́n ra bên ngoài. Tấm gương sâu tối nằm trong con người. Chỗ đó là nơi tranh tối tranh sáng đáng sợ. Khi chúng ta nh́n sâu xuống giếng ấy, ở vực sâu xa thẳm trong một cái ṿng tṛn chật hẹp, chúng ta nhận ra cả một thế giới mênh mông.
Trong cách nhận diện ra cái giếng, người ta cũng liên hệ chính cái giếng ấy biểu lộ chiều sâu của con người. Con người có ḷng sâu không ḍ tới, những vực sâu thẳm của sự giao tranh giữa ánh sáng và bóng tối, những vực sâu thẳm mà con người không đến được, như chính Augustin diễn tả: “Thiên Chúa sâu thẳm hơn sự thẳm sâu của con”. Nơi đó, con người ḥan toàn bất ngờ một khi chạm tới.
Nói đến cái giếng tại
Việt
Ở Bắc Bộ, khác với các
làng Nam Bộ người ta thường sống dọc
bờ sông nên ít khi cần có giếng, từ nước
sinh hoạt cho đến nước dùng để nấu
ăn tất cả đều được kín múc
từ ḍng sông, các làng Bắc Bộ ít sông hoặc có
những sông lớn thường lũ lớn mỗi năm
tràn về quét sạch nên cũng ít ai cư ngụ ven sông.
Thường các làng Bắc Bộ họ dùng cái ao đầu
làng hoặc đào một cái giếng lớn trong làng
để lấy nước sinh hoạt ở đó.
Do ảnh hưởng của Trung Hoa Đ́nh nơi tụ họp mọi người, dần dần trở thành nơi quy tụ dành riêng cho đàn ông, phụ nữ bị đẩy ra ngoài quần tụ tại bến nước, nếu là nơi có ḍng sông chảy qua, hoặc bờ ao hoặc nơi giếng nơi không có sông chảy.
Cái Đ́nh nơi tụ họp những người đàn ông, cái giếng nơi quần tụ của phụ nữ, nên cũng là nơi thông tin nhanh nhất những tin tức trong làng, là nơi trao đổi mua bán thuận tiện, cũng là nơi gặp gỡ giữa các gia đ́nh.
Thế nhưng, ngay tại cái Đ́nh hay cái giếng nước ấy lại cũng bao điều xấu được bới móc ra. Bao tiếng lành hay dữ được điều khiển bằng dư luận bên giếng nước hay cái Đ́nh, từ nơi đó người ta được nở mặt hay bị khinh chê.
Từ cái ăn ǵ hay mặc ǵ
đều là những thước đo giàu nghèo của
một gia đ́nh bên giếng nước, nơi đó, người
ta khó giấu nổi những riêng tư. Cuộc sống
trở nên chật hẹp giữa trời rộng, con người
trở nên bẩn hơn khi đến tắm giặt… Nước
đă bị ô nhiễm.
Một số gia đ́nh muốn sống tách biệt riêng tư hơn, người ta khai thác nguồn nước tại nhà, hoặc đào giếng tư, hoặc có ao riêng. Tách biệt khỏi cộng đồng bằng cách rời khỏi cái giếng chung, để có những cái giếng riêng, người ta bắt đầu mang nặng tư tưởng chiếm hữu, sự chiếm hữu của một số người đă đẩy nhiều người vào chỗ không có mảnh đất riêng để cư trú, h́nh thành những tầng lớp người giàu nghèo rơ rệt trong làng.
Cái Đ́nh, Cái giếng, nơi đó đề cao cái chung, nhưng một cái chung quá đáng khi nó soi mói cả những riêng tư, thầm kín, làm đổ vỡ biết bao mối tương quan con người với con người, con người với xă hội.
Không biết có phải là đằng sau cái Đ́nh và cái giếng đó mà người Việt có những tính xấu từ lâu đời tồn tại không?
Khi người Việt thích chỉ
trích nhau hơn là cộng tác, thích soi mói hơn là t́m
kiếm chân lư, thích dư luận hơn là lắng nghe
tiếng nói của cá nhân? Chuyện đầu làng,
từ giếng nước đến cái đ́nh, người
ta vui thích khi nói xấu nhau, lăng mạ, hạ nhục
nhau, người ta tranh giành nhau: “Một miếng giữa
làng”. Cái giếng bị biến dạng bởi những
cái xấu.
Và cái xấu lâu đời vẫn tồn tại, ngay cả khi cái giếng không c̣n nhiều trên thực tế, v́ ngày nay đă có nguồn nước đến từng nhà, người ta vẫn c̣n khơi những cái giếng ấy lại khi tụ năm tụ bảy, khi người ta khai thác cái giếng ở Internet, xây những cái Đ́nh bằng việc mở những website, đào những cái giếng để tụ tập bới xấu, đả phá lẫn nhau… Phải chăng đó là những tiếng nói để xây dựng, để khơi những ḍng nước sự sống? Sự vẩn đục đă làm cho cái giếng trở nên nguồn chết chóc, đầu độc cả một hồn dân tộc vốn hiếu ḥa.
Biểu trưng của cái giếng
là nơi mang nguồn sức sống cho cả làng, nước
để uống, để nấu ăn, để
tắm rửa, làm sạch. Nguồn nước ấy
cần được khơi trong mỗi năm để
giữ ǵn sức khoẻ cho cả làng, cũng cần khơi
trong để nối lại những giao tiếp.
Khi Đức Giêsu đến bờ giếng Giacóp gặp người phụ nữ Samari, Chúa Giêsu biết quá khứ của người phụ nữ đến giếng kín nước. Cái quá khứ chẳng tốt lành ǵ mấy bên những cái giếng làng, nơi con người đă sát hại nhau trong danh dự, phẩm giá, Ngài hứa ban nguồn nước mới. Xin cho chúng con nguồn nước mới ấy để khơi lại nguồn giếng hiệp thông, chia sẻ, mang sức sống dồi dào.
Lm Giuse Hoàng Kim Toan