Cổ
Luật Việt
Niên
hiệu Quang Thuận: 1460 – 1469.
Niên
hiệu Hồng Đức: 1470 – 1497.
Về
mặt luật pháp, đây là thời gian sáng lạn
nhất, còn rất nhiều những di tích để
lại, trong đó có ba quyển chính yếu:
Bộ
Quốc Triều Hình Luật hay bộ Luật Hồng
Đức.
Bộ
Thiên
Bộ
Hồng Đức Thiện Chính Thư.
Tinh
thần Pháp Luật Triều Lê có hai vấn đề rõ
nét:
Tinh
thần nhân trị: Do ảnh hưởng chung của người
Đông Phương lấy nhân làm gốc, nên bộ
Luật Triều Lê cũng ở trong cách nhìn đó, không
phân biệt phạm vi luân lý và pháp luật. Có sự
nhầm lẫn chăng? Thực tế là không, mục
đích của nhân trị là lấy đạo đức
làm người, trau dồi nhân cách làm trọng tâm xây
dựng xã hội.
Bảo
vệ phụ nữ trong môi trường văn hoá phong
kiến là một bước tiến rõ ràng của
nền phong hoá đặc biệt mang tính chất Việt.
Cùng thời, so với các nước trên thế giới,
Việt
Vua Lê
Thánh Tông đặt ra 24 điều giáo hoá, như bản
chỉ dẫn cho dân giữ luân thường đạo lý,
theo quan niệm giữ lấy gia đình là giữ lấy
Quê hương, bào vệ được thanh bình trong
Đất Nước. Các điều giáo hoá phần
lớn liên hệ tới bổn phận các thành viên trong
gia đình:
“Điều
Thứ Nhất: Cha mẹ dạy con phải có phép tắc,
trai gái đều có nghề nghiệp, không được
rượu chè, cờ bạc, tập nghề hát xướng
để hại phong tục.
Điều
Thứ Hai: Người gia trưởng tự mình phải
giữ lễ phép để cho cả nhà bắt chước;
nếu con em làm càn thì bắt tội gia trưởng.
Điều
Thứ Ba: Vợ chồng cần kiệm làm ăn, ân nghĩa
trọn vẹn, duy chỉ có khi nào người vợ
phạm tội thất xuất thì mới được
bỏ, chứ không được khiên ái, cẩu dung làm
hại đến phong hoá.
Nói
đến Thất Xuất thì cũng cần nói ngay đến
Tam Bất Khứ trong điều 165 Hồng Đức
thiện chính thư và điều 108 Gia Long quy định:
1/
Giữ canh tam niên tang: Đã để tang nhà chồng ba năm.
2/
Tiền bần tiền hậu phú quý: Khi lấy nhau nghèo,
về sau giàu có.
3/
Hữu sở thú vô sở quy: Khí lấy nhau có bà con lúc
bỏ nhau không còn bà con trở về.
Điều
thứ Tư: Làm con em nên yêu mến anh em, hoà thuận
với hương đảng, phải lấy lễ nghĩa
mà cư xử, nếu trái phép thì người tôn trưởng
đánh đòn dạy bảo, có tội to thì phải
đem nộp quan để trừng trị.
Điều
thứ Năm: Ngoài làng xóm, trong họ hàng, người nào
gặp hoạn nạn thì nên chu cấp thương xót
lẫn nhau. Nếu có người làm việc nghĩa
nổi tiếng, thì các viên phủ, huyện sở tại
trình với hai ty Thừa chính và Hiến sát xét thực tâu
bầy đầy đủ sẽ được triều
đình biểu dương.
Điều
Thứ Sáu: Đàn bà có lỗi mà cha mẹ và nhà
chồng đã trừng trị thì nên phải sửa mình
đổi lỗi, không được tự tiện
trốn đi, làm hư mất nết đàn bà.
Điều
Thứ Bảy: Người đàn bà goá không được
chứa những trai trẻ trong nhà, nói dối là con nuôi
để làm những việc gian dâm lén lút.
Điều
Thứ Tám: Người đàn bà goá chồng, đối
với các con vợ cả, hoặc vợ lẽ nàng
hầu, nên có lòng thương xót, không được mưu
mô để chiếm đoạt gia sản làm của riêng.
Điều
Thứ Chín: Đàn bà goá chồng, chưa có con cái thì
phải ở nhà chồng để giữ đủ tang
lễ, không được chuyển vận của cải
mang về nhà mình.
Điều
Thứ Mười: Là đàn bà phải theo chồng, không
được cậy cha mẹ phú quý mà khinh rẻ nhà
chồng, nếu không như thế thì bắt tội đến
cha mẹ.
Điều
Thứ Mười Một: Bọn sĩ phu phải đôn
đốc học nghiệp, phẩm hạnh, giữ điều
lễ chung, nếu có người nào thì thọt cửa
quyền, dựa thế lực người trên, ra oai
nạt nộ người khác sẽ bị tước
bỏ tên tuổi, suốt cuộc đời không
được kể là hàng sĩ phu.
Điều
thứ mười hai: Bổn phận người điều
lại chỉ có việc giữ sổ sách văn thư làm
công việc theo chức phận của mình, nếu có người
nào dùng trí thuật làm điên đảo giấy tờ
thì viên cai quản phải kiểm xét cho ra để
trị tội.
Điều
thứ mười ba: quân và dân nên hiếu với cha
mẹ, thảo với anh em, hết sức làm ruộng; người
ra ngoài, người ở nhà, phải giữ gìn lẫn
cho nhau; đến kỳ thường phiên thì vui vẻ
đi làm công; không đước lười biếng
trốn tránh. nếu có ai là người nổi tiếng lương
thiện thì các viên phủ, huyện sở tại trình lên
hai ty Thừa chính, Hiến sát xét thực rồi tâu đầy
đủ sẽ được khen thưởng.
Điều
thứ mười bốn: Người buôn bán nên theo
thời mà lưu thông phẩm vật, không được
lừa thùng tráo đấu, không được nhân cơ
hội tụ họp đồ đảng, lén lút làm
việc trộm cướp, người nào phạm pháp
sẽ trị tội nặng.
Điều
thứ mười lăm: Việc cưới gả,
việc tế tự, phải dựa theo lễ phép, không
được tiến vượt quá phận định
của mình.
Điều
thứ mười sáu: chỗ dân gian, có mở trường
du hí hoặc cúng lễ thì con trai, con gái đến xem, không
được đứng lẫn lộn, để
khỏi thói dâm.
Điều
thứ mười bảy: Các hàng quán bên đường,
có phụ nữ đi xa đến trọ, thì phải phòng
giữ. Nếu để hà hiếp ô nhục người
ta, việc phát giác, thì người phạm cùng với
chủ nhà đều phải trị tội cả.
Điều
thứ mười tám: Phủ huyện phải lập bia
ở các nơi sở tại để cấm con trai, con gái
không được tắm cùng bến, để cho có phân
biệt.
Điều
thứ mười chín: Các xã thôn phải chọn một
vài người già cả, đạo đức làm trưởng,
những ngày thong thả đem dân ra đình tuyên giảng
những lời cáo dụ, để khiến dân bắt chước
làm điều thiện thành ra mỹ tục.
Điều
thứ hai mươi: Trong hạt các phủ huyện,
nếu có kẻ hào cường xâm chiếm ruộng đất,
ức hiếp người cô độc, xui nguyên dục
bị cáo kiện lẫn nhau thì cho phép xã thôn đó xét
tố giác để nghiêm trị; nếu phủ huyện
nào vì tình riêng mà ẩn giấu đi sẽ bị
luận vào tội giáng chức hoặc bãi chức.
Điều
thứ hai mươi mốt: Những nhà tước vương,
tướng công, đại thần chứa chấp người
tư cách hèn hạ, làm cò mối đưa đồ
đút lót cùng nô tỳ nhà ấy mua các phẩm vật
của dân, thì cho phép người đương sự
đến cửa quan tố cáo, bọn can phạm sẽ
bị trừng trị nặng.
Điều
thứ hai mươi hai: Việc quan giữ chức trách
cai trị dân (mục dân chi quan) nếu viên nào biết
dạy bảo, đôn đốc sức dân trong hạt hăng
hái theo lễ nghĩa nhún nhường thì ty Hiến sát
thực ghi vào hạnh nhất trong dịp khảo công;
nếu viên nào không siêng năng dạy bảo dân, thì
khảo công, liệt vào hạng không lo đầy đủ
chức phận.
Điều
thứ hai mươi ba: Xã trưởng, thôn trưởng
và phường trưởng, người nào biết siêng
năng dạy bảo dốc sức, làm cho phong tục làng
xóm trở nên tốt lành, thì các viên phủ huyện trình
bày rõ với hai ty Thừa chính và Hiến sát xét thực,
tâu lên triều đình, sẽ ban khen thưởng.
Điều
thứ hai mươi tư: Các dân Mường Mán ở
ngoài bờ cõi nên giữ lời di huấn, không được
trái đạo luân thường. Nếu cha anh, chú bác
đã chết thì con em không được chiếm
lấy thê thiếp. Nếu trái phép, sẽ bị tội
rất nặng”[1].
Những
điều giáo giới trên không là chỉ thị thông thường,
theo hình luật nhà Lê, điều 136, ai không tuân theo thì
phải tội lưu hoặc tội tử. Những điều
giáo giới này chứng tỏ nhà Lê cường thịnh
nhờ giúp dân giữ gia đạo và giữ được
nước, có các điều không thấy trong bộ
luật Trung Hoa.
Không
chỉ có đạo luật của nhà nước mới
nói tới hiếu đạo, tìm trong các bản hương
ước của làng cũng thấy, ví dụ:
Bản
hương Ước làng Cẩm Trường, Huyện Yên
Định (Thanh Hoá) năm Tự Đức 30 (1877) ghi:
“Trong thôn, người nào bất hiếu, bất mục
bản thôn hỏi đúng sự thật, phạt 30 quan,
đánh 30 roi. Nếu hai ba lần giữ thói cũ không
sửa, sẽ đem lên cáo quan không hối tiếc”.
Hương
Ước làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu
(Nghệ An), soạn từ năm Dương Hoà, đời
Lê (1636), điều 64 ghi: “Người ta lấy luân lý làm
trọng, nghĩa là làm cha thì tính nết hiền lành, làm
con thờ cha mẹ cho có hiếu, làm anh thì ở với
em cho thuận hoà, làm em thì ở với anh cho cung kính,
chồng nói thgì vợ nghe, làm người cư xử là
thế. Nếu không được thế thì chẳng khác
loài cầm thú. Ai có điều lỗi không đợi người
nhà trình đạt, chỉ cần có người cáo giác
với làng là làng chiếu theo nặng nhẹ mà bắt
phạt”.
Xem ra
việc “đóng cửa nhà dạy nhau” nhằm bảo
vệ thanh danh của gia đình thì đúng hơn là dùng
quyền ấy mà áp bức nhau trong gia đình xưa.
Đạo
Công Giáo vào Việt Nam ở trong giai đoạn có bộ
luật ảnh hưởng đến gia đình như
vậy, chắc chắn là gặp thửa đất
tốt cho việc gieo trồng Tin Mừng. Các cha Dòng Tên
đã thành công trong việc truyền giáo buổi đầu
tiên nhờ vào việc tôn trọng lòng tôn kính tổ tiên
của dân tộc Việt.
LM Giuse Hoàng Kim Toan
[1]
Cổ Luật Việt