Vai tṛ người mục tử.

Mục tử Israen, hay c̣n gọi là Người chăn dắt Israel, là một thuật ngữ quen dùng trong văn hoá người Do Thái, biểu tượng là người ǵn giữ hoà b́nh, người của cơi thiêng mà đến.

Trong ngôn ngữ biểu tượng người chăn dắt là người đă từng trải bằng những kinh nghiệm cùa ḿnh, người trực giác nh́n thấy phía trước, dự đoán được tương lai gần những điều sắp đến. Đức Maria chiêm ngắm màu nhiệm nơi Đức Giêsu bằng tất cả các cơ năng thuộc về con người để thấy màu nhiệm Cứu Thế trong Đức Kitô để tháp nhập đời ḿnh vào trong hiến tế với Người Con trên Thập Giá.

Nhập Thể hướng đến Tử Nạn Phục Sinh, là một nhăn quan thuộc về tương lai mà Đức Maria đă lănh nhận. Thuộc về quá khứ là những lời loan báo: “Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai” dẫn đến một hiện tại là : "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói" (Lc 1, 38), và rồi khởi phác một tương lai: “C̣n chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Mt 2, 35). Đó là một dự báo trước cho một lời xin vâng. Đức Maria chiêm ngắm Đức Giêsu là một cách tháp nhập từng ngày trong đời sống của ḿnh vào mầu nhiệm Thập Giá, trở nên “Mẹ đồng công cứu chuộc”.

Người nh́n thấy tương lai sắp đến là người luôn ở trong tư thế sẵn sàng dầu đèn, tuỳ thuộc vào Ư muốn của Thiên Chúa. Đây là một kinh nghiệm tu đức trong lời đáp “Xin Vâng” mà Mẹ Maria đă hằng để tâm suy đi nghĩ lại trong ḷng. Người mục tử là người nh́n thấy tương lai của đoàn chiên ḿnh bằng tất cả kinh nghiệm mà cuộc đời ḿnh đă trải qua và nghiệm thấy. Chúng ta bắt gặp kinh nghiệm này của Đức Maria trong bài ca Magnificat:

“Đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người. Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường ḷng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường. Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư, người giàu có, lại đuổi về tay trắng. Chúa độ tŕ Ít-ra-en, tôi tớ của Người, như đă hứa cùng cha ông chúng ta, v́ Người nhớ lại ḷng thương xót dành cho tổ phụ Áp-ra-ham và cho con cháu đến muôn đời." (Lc 1, 50 -55).

Kinh nghiệm của người mục tử là một kinh nghiệm cần thiết để lănh nhận sứ vụ chăn dắt. Bài họ đó cũng là bài học kinh nghiệm của Thánh Phêrô: “Thầy biết con yêu mến Thầy”.

Người chăn dẫn cũng là người biết canh chừng, theo chức năng đó người chăn dắt luôn trau dồi thêm những t́nh huống cảnh giác. Người chăn dắt có nhiệm vụ bảo đảm an toàn cho đoàn chiên của ḿnh, anh ta là người biết nh́n trời, dự đoán qua trăng sao, tai lắng nghe và phân biệt được tiếng thú dữ và tiếng chiên lạc đàn thuộc bầy của minh. Chính anh ta là người không có chỗ dừng chân, không có một nơi gối đầu định cư, số phận anh ta tuỳ thuộc vào số phận của đoàn chiên. Đối với đoàn chiên, anh ta là đôi mắt là sự am hiểu thay cho đàn chiên, biết từng con chiên và bảo vệ từng con chiên trong đàn.

Sứ vụ của người chăn chiên đ̣i hỏi phải là người khôn ngoan, hiền hậu, có trái tim nhân từ thương cảm. Con chiên nào đau bệnh, anh chữa trị, con nào lạc lối, anh t́m đưa về, con nào bước đi yếu ớt, anh cơng trên vai. Những con chiên khoẻ mạnh anh ta vỗ về…Từ những h́nh ảnh nhân hậu đó, người chăn chiên c̣n là biểu tượng của sự b́nh an cho đàn chiên. Người ta muốn bắt chiên, trước hết phải giết hại người chủ chiên. T́nh mẫu tử của Mẹ Maria với  các linh mục cũng là một vai tṛ trợ giúp và cầu nguyện cho các linh mục trở nên giống Chúa Giêsu hơn mỗi ngày. Người mục tử đánh mất trái tim nhân hậu là người mục tử giả danh, kẻ giết hại hơn là người bảo vệ.

Theo truyền thống Do Thái Cain đại diện cho người theo văn hoá định cư làm nông nghiệp, Abel đại diện cho nền văn hoá du mục làm nghề chăn thả. Người định cư rất quư mến người du mục, và thường ân cần tiếp đón họ. Theo khía cạnh nh́n của người định cư, người chăn chiên là người không thuộc về đất, người chăn chiên có một giá trị thiêng liêng và cao quư.

Abel, người chăn dắt chiên không thuộc về đất, người được tuyển lựa tách riêng. Được chọn giữa những người thiếu nữ Israel, Đức Maria luôn ư thức về phận nhỏ của ḿnh được Thiên Chúa đoái thương nh́n tới. Gốc gác và ơn gọi của người linh mục cũng xuất phát từ sự tuyển lựa đó, để cho Thiên Chúa làm việc trên cuộc đời ḿnh, là người nối linh thiêng vào đời, họ là những người mà Đức Giêsu đă gọi là: “Những kẻ Cha đă chọn từ giữa thế gian mà ban cho con, con đă cho họ biết danh Cha. Họ thuộc về Cha, Cha đă ban họ cho con, và họ đă tuân giữ lời Cha. Giờ đây, họ biết rằng tất cả những ǵ Cha ban cho con đều do bởi Cha, v́ con đă ban cho họ lời mà Cha đă ban cho con; họ đă nhận những lời ấy, họ biết thật rằng con đă từ Cha mà đến, và họ đă tin là Cha đă sai con” (Ga 17, 6- 8). Kẻ được tuyển chọn bắt đầu một nghịch lư: “Con không c̣n ở trong thế gian nữa, nhưng họ, họ ở trong thế gian; phần con, con đến cùng Cha” (Ga 17, 6). Sự nghịch lư mang nơi thân ḿnh người được tuyển chọn luôn gặp những mối đe doạ giữa những hiểm nguy: “Con đă truyền lại cho họ lời của Cha, và thế gian đă ghét họ, v́ họ không thuộc về thế gian, cũng như con đây không thuộc về thế gian. Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha ǵn giữ họ khỏi ác thần” (Ga 17, 14 – 15).

Đàng khác, Abel và Cain mang một biểu tượng nữa: Một thế gian thù nghịch với những kẻ được tuyển chọn, đó là h́nh ảnh thù địch của Cain, kẻ  ân cần đón tiếp nhưng cũng là kẻ mang h́nh ảnh thế gian của sự dữ. Nơi Cain, biểu lộ một sự quư mến và cũng biểu lộ sự thế tục. Là con người được tuyển chọn nhưng vẫn ở giữa thế gian, ác thần có thể xâm nhập và làm mất đi tính  cách hiền hoà và chỉ c̣n thế tục, đời sống bị xoay chiều thay v́ làm chứng trở nên phản chứng, ḷng hiếu khách trở nên ghen tỵ và sát nhân.

Nh́n trong viễn cảnh Cain, người bội phản đáng sợ, người tận hiến cần gắn bó với Đức Maria nhiều hơn để: “giữa bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Đó thực sự là một ơn gọi sống thánh hiến giữa đời mà Đức Giêsu mời gọi: “Con tự hiến thánh con, để họ cũng được thánh hiến” (Ga 17, 19).

Nền văn minh Assyrie và Babylone, biểu tượng người chăn chiên gắn liền với ư nghĩa vũ trụ. Danh hiệu người chăn chiên được gán cho thần mặt trăng Tammuz, là người chăn dắt các tinh tú, vị thần của thực vật, chết đi và sống lại. Theo chu kỳ mặt trăng tuần tự sinh ra và rồi mất đi, cũng một chu kỳ liên tiếp được làm đi lập lại mỗi khi chiều về, buổi tối ập đến, người chăn cừu lại lùa đàn chiên vào nơi ǵn giữ và sáng mai lại thả ra. Người chăn dắt trong đêm ngủ mê của đoàn chiên vẫn là người lắng nghe, người cầu nguyện cho sự an toàn của đàn chiên.

Với h́nh ảnh đó, người chăn chiên là người trung gian giữa Đấng Tối Cao và thọ tạo. Theo h́nh ảnh này Đức Maria quả thực là Mẹ của các linh mục, nơi Mẹ Maria được ví như vầng nguyệt, người chăn dắt các v́ tinh tú trên trời, Mẹ là vầng trăng canh giữ giấc ngủ ban đêm của đoàn chiên, như lời ru dịu êm, như cánh tay bảo vệ và như lời cầu bầu hữu hiệu, Đức Maria là mẹ của các linh mục và những người tận hiến.

Lm Giuse Hoàng Kim Toan