Xây dựng cuộc đời có trách nhiệm.
Một
số bạn trẻ của báo Mẹ Hiền nêu những
thắc mắc về vấn đề nghề nghiệp và
tương lai của tuổi trẻ. Xin
gửi các bạn bài này để bạn có thể tham khảo.
Đá banh thâm nhập vào Nước Mỹ rất
muộn, nhưng trên đấu trường quốc tế
qua các World cup, Mỹ không phải là một đội tuyển
tồi. Một đội tuyển rất
trẻ nhưng lại không thiếu kinh nghiệm trận mạc.
Người ta nói nhờ tài chánh mạnh nên có
thể mua được tất cả, kiếm được
nhiều tài năng. Nh́n theo cách đó
mới thực sự là cái nh́n bên ngoài của sự kiện.
không phải là có tiền là mua được
tất cả, họ có một chiến lược, một
kế hoạch để phát triển. Điều
quan trọng nhất trong thể thao mà họ chơi dù ở
các lớp nhỏ cho đến đội tuyển quốc
gia, có mục tiêu là học cách dành chiến thắng. Cuộc đời nh́n trong thể thao giống như
một vận động trường mà mỗi cá nhân thi đấu
trong đội tuyển phải nỗ lực phát huy khả
năng hết sức để t́m chiến thắng về
cho đội của ḿnh, từ đó mới t́m được
sự ủng hộ của nhiều người xem. Thực chất qua lối chơi thể thao của
người Mỹ, người Mỹ không chỉ chơi,
nhưng là học cách chiến thắng. Học
cách chiến thắng vừa cá nhân vừa cho tập thể.
1. Tinh
thần thể thao, tinh thần thép.
“Một trong những sự kiện quan trọng nhất trong xă hội Nước Mỹ là việc bầu tổng thống, người ta cũng gói gọn như thành tích của môn thể thao. Cuộc vận động tranh cử mùa Thu năm 1988, các cuộc tranh luận trên đài truyền h́nh giữa hai ứng cử viên Geogre Bush và Michael Dukakis, đều có những cuộc thảo luận kế tiếp với nhiều hạng người tham gia: Giới truyền thông, quần chúng, những người ủng hộ, kể cả đối thủ. Những đề tài tranh luận lớn được đưa ra để tranh cử như Sida, nhà ở, giải trừ vũ khí hạt nhân th́ ít mà những người muốn biết ai là người thắng cuộc th́ nhiều. Ngay hôm sau trên trang báo đầu người ta đăng tải: Bush 1, Dukakis 0, cho 250 triệu độc giả xem.
Thật giống nhau! số người tham gia vào các cuộc thi đấu thể thao được phát trên các kênh truyền h́nh đông hơn số cử tri đi bỏ phiếu bầu tổng thống bốn năm một lần. Năm 1984, Reagan thắng phiếu đối với Walter Mondale, người ta thăm ḍ số cử tri đi bầu tổng thống, có 91 triệu cử tri bỏ phiếu, cũng năm đó ước tính trên 100 triệu người đến xem đội Super Bowl, như hiện tượng của bóng đá Mỹ. Kết quả thăm ḍ của nhà sản xuất bia Miller Lite thực hiện đánh giá mức độ ưa chuộng thể thao của người dân Mỹ, th́ có kết quả 96,3 % người Mỹ tham gia thể thao ít nhất một lần mỗi tháng theo các h́nh thức: tham gia các môn thể thao, tham dự cuộc đấu, đọc báo, hoặc hơn nữa là ủng hộ viên cho một đội tuyển hay một lực sĩ, vơ sĩ nào đó.
Các môn thể thao có một ảnh hưởng rất lớn trong xă hội Mỹ. Chúng gắn liền với giới kinh doanh và với nền văn hoá theo nghĩa rộng. Các ngôi sao trong các môn thể thao là những người kiếm được nhiều tiền nhất trừ một số ít ngoại lệ. Những ngôi sao ấy, có mặt trên các áp phích quảng cáo, là thần tượng của những em thiếu nhi, thu hút quần chúng”.
“ Thể thao không c̣n như xưa, là nơi người ta rèn luyện ư chí, nhân cách nhưng thật sự là nơi thắng hay thua. Các phẩm chất của cá nhân hay đội đều không đáng kể với kết quà chung cuộc. trong lănh vực thể thao lan sang các lănh vực khác, người ta sẽ không cần biết điều ǵ đă xảy ra với người đứng hạng 2, mặc dầu anh ta có thể là thi đấu hết ḿnh, đầy sáng tạo. không ai để ư tới vẻ đẹp của thể thao của các đại hội Olympic, điều quan trọng là có bao huy chương hơn người Nga.
Kết quả thăm ḍ của Miller Lite tiến hành, 74% nói rằng không quan tâm đến việc thất bại của con ḿnh trong một cuộc thi thể thao, 40% nói rằng sẽ thưởng cho con ḿnh nếu đoạt được giải. người ta kể một câu chuyện tiêu biểu xảy ra ở vùng ngoại ô, một ông bố mắng con ḿnh thậm tệ v́ một động tác sơ xuất của cậu con trai 7 tuổi dẫn đến việc thua trận bóng chày cho đội của cậu.
Thắng
bằng mọi giá đó là mục đích người ta làm
để chinh phục ở các sân thể thao, từ đó
chuyển sang các lănh vực khác nhau của đời sống,
ở trường học nơi làm việc và lưu truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác.”
2. Biết khả năng của ḿnh:
Đặc trưng nhất là những biểu hiện qua việc chơi thể thao. Chơi thể thao không thuần tuư là đẩy mạnh việc rèn luyện thân thể. Thể thao có một hướng đi nhất định của nó, là học cách chiến thắng. Trong cách giáo dục hiện thời người ta cũng theo lối cách thức huấn luyện của một huấn luyện viên cho một đội tuyển. Người thầy giỏi là một nhà cầm quân tài năng dẫn dắt đoàn quân ra trận. Người thầy đồng nghĩa với một vai tṛ của huấn luyện viên của một đội banh, người huấn luyện viên cần biết rơ về khả năng của từng em trong lớp. Như một đội tuyển đá banh, điều quan trọng không chỉ là huấn luyện, nhưng là biết nhận rơ vai tṛ của mỗi thành viên trong đội. Có người chỉ có thể đứng vai tiền vệ hoặc thủ môn. Làm sao nhận rơ được về khả năng của các thành viên. Có nhiều ngành khoa học khác nhau để giúp phát hiện khả năng của mỗi cá nhân. Trong một trường học, người ta giúp cho học sinh nhận ra khả năng của mỗi học viên để giúp họ chọn lựa chỗ đứng của ḿnh tốt nhất. Đó là giai đoạn hướng nghiệp cần thiết.
Điều
quan trọng sau khi nhận ra khả năng của mỗi
người, huấn luyện viên sẽ dẫn dắt cho
người ấy biết họ có thể đứng ở
vai tṛ nào, phát triển làm sao…
Huấn luyện viên giúp cho thành viên đó lập kế hoạch để thực hiện. Kế hoạch đó được gọi tắt bằng cụm từ Smart, được viết tắt bằng các bước thực hiện khả thi.
Mục tiêu phân biệt với mục đích. Mục đích là điểm tối hậu, cuối cùng, mục tiêu là những mốc của từng giai đoạn để đạt tới mục đích.
Bây giờ chúng ta thử để biết mục đích của ḿnh. Bạn hăy thử trả lời trước mỗi câu hỏi trước khi đọc phần giải mă:
Mục đích của bạn là ǵ? Đây là câu hỏi quan trọng không thể bỏ qua.
Mục tiêu bạn nhắm tới là ǵ? Gồm những mục tiêu nào để đạt
được mục đích. Bạn hăy
xác định càng cụ thể càng tốt. Thứ tự thực hiện các mục tiêu khác
nhau.
Bạn
thử lập một kế hoạch thực hiện một
mục tiêu theo tiêu chuẩn Smart:
S: Subject: Chủ đích. Cần có một tên gọi cụ thể cho một mục tiêu. Đó là một chuẩn cho một giai đoạn vươn tới. Bạn không nên đặt mục tiêu quá lớn, không làm sao vươn tới được mà cũng không quá nhỏ không cần sự cố gắng nào.
M:
Measure: Đo lường được. Biết
đánh giá đúng về khả năng của ḿnh, nhận
ra được điều ḿnh cần nỗ lực hơn.
Mục tiêu có thể nắm chắc được
ứng với khả năng. Bạn đừng
cố gắng thích điều người ta thích, như vậy
là bạn là người viễn vông và không bao giờ bạn
thành công được. Biết điều
ḿnh thích, và thực hiện điều ḿnh thích mới có thể
thành công, bởi v́ bạn có thể đo lường, ước
lượng được chính khả năng của bạn.
A:
Availability. Hiệu năng của mục tiêu,
hay của một phương pháp rèn luyện để tiến
tới. Không có phương pháp rèn luyện
hiệu năng sẽ làm hao ṃn cố gắng. Như thế cần có một huấn luyện viên
chuyên môn thực sự để giúp cho phương pháp, đó
là điều kiện tốt. Không được bỏ
qua phương pháp thực hiện này ngay cả khi không có
huấn luyện viên: Bạn hăy t́m ra một cách thích hợp
nhất đối với bạn để bạn thực
hiện, không ỷ nại vào ai, không chờ đợi sự
may mắn hiếm có. Có khả năng thực
hiện và thực hiện được.
R: Result. Kết quả. Không thể bỏ qua kết quả đánh giá này, người nào nghĩ rằng nỗ lực của ḿnh thôi là đủ rối mà không nhằm tới kết quả, là thiếu hẳn chiến lược mục tiêu. Nỗ lực sẽ không đi đến đâu hoặc vẫn hên xui may rủi. Cho nên kết quả mới là điều đáng nói, nó là câu trả lời phũ phàng hay vinh quang cho mọi nỗ lực.
Time – Line: Thời gian và lịch tŕnh. Mục tiêu không là vô hạn định được hoặc buông trôi theo ngẫu hứng. Ấn định thời gian cho một mục tiêu, thời gian vừa đủ cần thiết để đạt được mục tiêu, nếu quá thời gian mà mục tiêu chưa đạt được là kể như phá sản smart. Như thế, để nắm chắc được thời gian, người ta mới đề nghị lịch tŕnh thực hiện cho mỗi công việc để đạt được mục tiêu.
3. Xây dựng cuộc đời có trách nhiệm.
Bạn biết bạn muốn ǵ, đó là một khởi điểm tốt, nhưng thường chính bạn, bạn không biết bạn muốn ǵ. Ví dụ trên trang t́m việc làm, một người tự quảng cáo. Cử nhân Kinh tế, Cử nhân Anh Văn, T́m một việc làm thích hợp, lương tháng 1.200.000 VND. Trên mục t́m việc làm đó bạn sai một bước cơ bản, bạn không xác định được bạn thích hợp được cho việc làm ǵ, làm sao bạn có thể tiến xa hơn được.
Vấn đề thật cơ bản và thật là khó đối với bạn phải không? Vấn đề là bạn chưa định hướng được hướng đi cuộc đời của bạn, ngay cả khi bạn vừa tốt nghiệp Đại học ra trường, học một nghành nghề chuyên môn.
Định hướng bắt đầu từ đâu? Thời gian tốt nhất là những năm ở Trung Học, nếu muộn có thể ở ngay những năm Đại học, không bao giờ quá muộn nếu bạn muốn thực hiện. Định hướng được để bắt đầu đào sâu môn học của ḿnh sẽ theo đuổi.
Đi vào Ví dụ cụ thể:
Mục
đích của bạn: là một bác sỹ phẫu thuật
mắt giỏi. (Thông thường người
ta chỉ dừng lại ở mục đích trở thành bác
sỹ, khi học ra trường làm bác sỹ rồi, người
ta không biết ḿnh làm ǵ nữa, bởi người ta đă
sai lầm lấy mục tiêu làm mục đích). Trở thành bác sĩ là mục tiêu để đạt
được mục đích là một bác sỹ giỏi.
Giai đoạn
1: Tốt nghiệp Trung Học
- Trờ thành bác sỹ nhăn khoa.
S:
Subject: Mục tiêu của bạn: Trở thành bác sỹ khoa
nhăn. (Bạn không thể trở thành bác sỹ
phẫu thuật mắt giỏi, nếu bạn không tốt
nghiệp trung học, thi đậu vào trường y để
là bác sỹ, đúng không, như vậy mục tiêu là trở
thành bác sỹ đă.)
M: Measure: Tốt nghiệp trung học - Vào trường Y, Thi môn Toán, Hoá, Sinh. Đây là một đ̣i hỏi thực tế chứ không mơ mộng. Bạn đang có sở trường về khối D không? Và bạn chắc chắn tới đâu?
Nếu chắc về về sở trường, bạn quyết định.
A: Availability: Trau dồi môn học Toán, Hoá, sinh. Trắc nghiệm lại từng môn, t́m những đề thi cũ của trường Y để thử nghiệm, đánh gía từng môn. Nếu chưa đạt theo yêu cầu th́ đặt câu hỏi theo các mệnh đề nghi vấn (Why, Who, What, When, How). Đặt nghi vấn để xác định bạn biết ǵ và chưa biết ǵ, có thể thiết lập “Mind Map”, là bản đồ tri thức. Bản đồ tri thức tŕnh bày giống như nguyên tố, gồm có Neutron và electron. Neutron là môn học, các electron là từng nhánh của môn học, nhánh nào chưa biết và nhánh nào đă biết.
R: Result:
sau khi bạn phân tích bạn có được bản kết
quả để lên một kế hoạch thực hiện.
Và cứ nhớ rằng hai bước
(Availability và result) luôn thực hiện để đánh giá
sau một thời hạn, để nhận định lại
những ǵ cần trau dồi hơn. Dựa
vào kết quả nhận định, bạn bắt đầu
t́m học hỏi về hướng này.
T: Time – line. Là chương tŕnh cụ thể để hành động, hoặc là nghiên cứu thêm, học hỏi bạn bè.
Bạn có 2 mục tiêu thi đậu kỳ thi tốt
nghiệp và thi đậu vào trường y.
Ví dụ: 15 tháng 7 năm 2004 là ngày thi vào trường y.
Kế hoạch từ tháng 6 – 2003 là:
Tháng 6 / 2003: Test những kiến thức về các môn học Toán Lư hóa - lập Mind Map.
Tháng
7 – 10: Bổ sung những điểm yếu theo
“mind map” đợt 1. (Nhớ là ghi rơ ra)
Tháng
10 – 2003: Test, nhận định kiến thức cần bổ
sung kiến thức đợt 2.
Tháng 10 – 12 – 2003. Test.
Cuối tháng 12 và đầu tháng 1 – 2004: nghỉ giải lao 2 tuần. Thời gian giải trí rất cần để tái hồi chất xám. Bạn nhớ đừng bỏ qua.
Tháng 1 đến tháng 4: Bạn lên kế họach học đều các môn chuẩn bị giai đoạn 1 cho kỳ thi.
Tháng 4 – tháng 5/04: Bạn vừa sắp xếp thi học kỳ và tốt nghiệp, sau đó bạn xếp thời gian thư giăn vài ngày.
Tháng
5 – tháng 7: Chuẩn bị bước 2 gần hơn cho ḱ
thi Đại học
Trước ngày thi bạn hăy dành thời gian nghỉ ngơi để bước vào trận thi đấu tốt đẹp nhất. người ta không vắt kiệt sức cho đến ngày thi đấu. Thi đấu là tinh thần thể thao thực sự, cần nhiều yếu tố để dẫn đến thành công, tránh tối đa việc học ôn trước mỗi môn thi, hăy kể như mọi sự đă sẵn sàng cho ḱ thi đấu.
Chúc bạn thành công.
Lmục
Giuse Hoàng Kim Toan.