Hy sinh Trở thành Bí Tích.

Bí tích Thánh Thể là “nguồn mạch và tột đỉnh của đời sống Kitô hữu”[1].

Là bí tích của sự Hiệp Thông, Bí tích Thánh Thể diễn tả đời sống hiệp thông với Thiên Chúa, hiệp thông trong cộng đoàn dân Chúa. Màu nhiệm của sự hiệp thông này được diễn tả việc Thiên Chúa Thánh hoá trần gian trong Chúa Kitô cũng như việc con người được thánh hoá trong Chúa Thánh Thần. Màu nhiệm là sự biến đổi mỗi ngày, mỗi lúc thực hiện trong Thánh Lễ, Thiên Chúa đang làm mới lại bộ mặt trái đất.

“Nhờ cử hành Bí Tích Thánh Thể, ngay từ bây giờ chúng ta được kết hợp với Phụng Vụ trên trời và tiền dự vào đời sống vĩnh cửu, “khi Thiên Chúa có toàn quyền trên mọi sự”[2].

Bí tích Thánh Thể được gọi là Lễ Tạ Ơn, v́ chính đây là việc tạ ơn Thiên Chúa. Tân Ước dùng từ “Eucharistein và Eulogein, gợi nhớ những việc Thiên Chúa đă thực hiện cho Dân Israen, Người đă sáng tạo - giải thoát và thánh hoá.[3] Thiên Chúa là Đấng giải thoát là kinh nghiệm đầu tiên Dân Do Thái học biết qua việc Thiên Chúa giải thoát họ khỏi đất Ai Cập, Thiên Chúa giải thoát họ cũng chính là Đấng đă tạo dựng nên họ.

Như những người Do Thái, chúng ta biết con người yếu đuối và mỏng ḍn. Dễ bị khuất phục trước những cơn cám dỗ để quên Chúa, quên sự thực thi lề luật của Ngài và quên đi những hồng ân Ngài luôn tuôn đổ xuống đời ta. Gục ngă liên tục trước những cơn cám dỗ đến nỗi gần như tuyệt vọng với chính ḿnh. Tuy nhiên, hăy nhớ rằng khi Thiên Chúa sai Con Ngài đến trong thế gian, Ngài cũng sai Thánh Thần Chúa đến để tăng sức cho chúng ta biết lắng nghe và tuân giữ lời Ngài.

Thờ phượng, tán tụng và ngợi khen là những phương thế để Đức Giêsu có thể đong đầy hồn ta bằng sự hiện diện của Ngài. Khi chúng ta dán mắt vào Đức Giêsu trong lời cầu nguyện, ta đón rước Ngài hàng ngày vào trong tâm hồn ta để giúp ta thực thi lề luật. Ta càng hướng về Ngài, Ngài càng có nhiều cơ hội để ghi khắc trong tim ta lề luật của Ngài. Và như thế, việc tuân giữ lề luật Ngài không c̣n khó khăn nữa v́ có Chúa giúp ta thực thi những điều này.

Lm Giuse Hoàng Kim Toan

 


 

[1] LG 11.

[2] 1 Cr 15, 28.

[3] Gltc, số 1328.