Chiếc thang của Giacóp.
Giấc mộng của Giacóp:
“Gia-cóp ra khỏi Bơ-e Se-va và đi về
Kha-ran.11 Cậu đến một nơi kia và
nghỉ đêm tại đó v́ mặt trời đă
lặn. Cậu lấy một ḥn đá ở nơi đó
để gối đầu và nằm ngủ ở đó.12
Cậu chiêm bao thấy một chiếc thang dựng
dưới đất, đầu thang chạm tới
trời, trên đó có các sứ thần của Thiên Chúa lên
lên xuống xuống.13 Và ḱa ĐỨC CHÚA
đứng bên trên thang mà phán: "Ta là ĐỨC CHÚA, Thiên
Chúa của Áp-ra-ham, tổ phụ ngươi, và là Thiên Chúa
của I-xa-ác. Đất ngươi đang nằm, Ta
sẽ ban cho ngươi và ḍng dơi ngươi.14 Ḍng
dơi ngươi sẽ nhiều như bụi trên
đất; ngươi sẽ lan tràn ra khắp đông tây
nam bắc. Nhờ ngươi và ḍng dơi ngươi, mọi
gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc
phúc.15 Này Ta ở với ngươi; ngươi
đi bất cứ nơi nào, Ta sẽ giữ ǵn
ngươi, và Ta sẽ đưa ngươi về
đất này, v́ Ta sẽ không bỏ ngươi cho
đến khi Ta hoàn thành điều Ta đă phán với
ngươi."16 Gia-cóp tỉnh giấc và nói:
"Quả thật, có ĐỨC CHÚA ở nơi này mà tôi
không biết! "17 Cậu phát sợ và nói:
"Nơi này đáng sợ thay! Đây là nhà của Thiên Chúa,
là cửa trời, chứ không phải là ǵ khác."18
Sáng hôm sau, Gia-cóp dậy sớm, lấy ḥn đá cậu
đă gối đầu, dựng lên làm trụ và đổ
dầu lên đầu trụ.19 Cậu đặt
tên cho nơi đó là Bết Ên; trước đó, tên thành
ấy là Lút.
20 Gia-cóp khấn rằng: "Nếu
Thiên Chúa ở với tôi và giữ ǵn tôi trong chuyến
đi tôi đang thực hiện, nếu Người ban cho
tôi bánh ăn áo mặc,21 nếu tôi được
trở về nhà cha tôi b́nh an, th́ ĐỨC CHÚA sẽ là
Thiên Chúa của tôi,22 ḥn đá này là ḥn đá tôi
đă dựng lên làm trụ sẽ là nhà của Thiên Chúa, và
lạy Chúa, mọi sự Ngài ban cho con, con sẽ dâng cho Ngài
một phần mười."
St 28, 10 -22.
I.
H́nh ảnh chiếc thang.
Một chiếc thang đầu thang chạm
tới trời chân thang sát dưới đất.
1.
Cây
thang chạm trời.
Cây tre trăm đốt trong câu truyện
cổ của người Việt
Có ông Trời và có bà Thiên, đó là cách diễn
tả cặp đối xứng theo cách của
người Việt, Ông Trời bà Thiên diễn tả
Đấng Tạo Hoá như người cha và như
người mẹ trong cuộc sinh thành và dưỡng nuôi.
Cha sinh, mẹ dưỡng là nguồn căn của
Hiếu đạo (bổn phận làm con).
Isaia loan báo ḷng yêu thương này của Thiên
Chúa đối với nhân loại như Người Cha và
Người Mẹ.
“Như mục tử, Chúa chăn giữ đoàn chiên của Chúa, tập trung cả đoàn dưới cánh tay. Lũ chiên con, Người ấp ủ vào ḷng” bầy chiên mẹ, cũng tận t́nh dẫn dắt.”[1]
Hiếu đạo, v́ thế là bổn phận của mọi người sống trên dương thế, mọi người cùng một cha một mẹ dẫn đến bổn phận trong đời sống luân lư “Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”. Hun đúc từ niềm tin cha Trời, mẹ Đất dẫn đến cuộc sống tương quan nhân sinh. Tương quan nhân sinh lấy nguồn gốc từ Trời: “Không có Trời ai ở với ai” như vậy khi gọi Danh Xưng Trời người Việt cũng sống theo đạo Trời mà thuận với đạo nhân.
T́m thấy trong gốc của Đạo Trời là Tâm, người Việt sống chữ Tâm ấy, theo những suy nghiệm của ḿnh, cùng trong bối cảnh tư tưởng Đông Phương. Nguồn gốc nhân sinh là một câu hỏi liên tục chi phối tâm trí nhân loại Đông cũng như Tây, cả Đông và Tây đều chấp nhận một thực tại, tạo dựng là một diễn biến từ vô h́nh đến hữu h́nh. Nhờ một năng lực huyền nhiệm, vũ trụ xuất hiện, sức năng huyền nhiệm ấy Đông Phương theo Khổng Tử là Thái Cực, theo Lăo Tử là Đạo. Từ Một sinh nhiều. Một ấy theo Đông Phương là Tâm của Trời Đất, Thái cực do Đạo sinh ra: “Đạo sinh nhất, Nhất vi Thái cực”. Từ Một sinh nhiều và nhiều trở về Một: “Thiên do Đạo nhi sinh, địa do Đạo nhi thành, vật do Đạo nhi h́nh, nhân do Đạo nhi hành. Thiên, địa, nhân, vật, tắc dị hĩ, kỳ ư Đạo, nhất dă”.
Rất gần với giáo huấn của Kinh Thánh về việc tạo dựng, mà các con đường suy biết của con người theo tự nhiên có thể đạt tới. Từ suối nguồn T́nh Yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi Ngài đă làm nên vũ trụ và ban sự sống cho nhân loại, vạn vật:
“Ngày ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa làm ra đất
và trời, chưa có bụi cây ngoài đồng nào trên
mặt đất, chưa có đám cỏ ngoài đồng
nào mọc lên, v́ ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa chưa cho mưa
xuống đất và không có người để canh tác
đất đai. Nhưng có một ḍng nước từ
đất trào lên và tưới khắp mặt đất.
ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa lấy bụi từ đất
nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi,
và con người trở nên một sinh vật. Rồi
ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa trồng một vườn cây
ở Ê-đen, về phía đông, và đặt vào đó con
người do chính ḿnh nặn ra.”[2]
Và ngày quang lâm tất cả sẽ
được thu họp nên Một trong Đức Kitô.
“Người cho ta được biết thiên
ư nhiệm mầu:
thiên ư này là kế hoạch yêu thương
Người đă định từ
trước trong Đức Ki-tô.
10 Đó là đưa thời gian tới hồi
viên măn
là quy tụ muôn loài trong trời đất
dưới quyền một thủ lănh là
Đức Ki-tô.
Cũng trong Đức Ki-tô.”[3]
Chiếc thang chạm Trời, có một ư
nghĩa trong mạc khải tự nhiên, con người có
thể nhận biết Thiên Chúa qua các dấu ấn do bàn
tay Thiên Chúa tạo dựng. Chiếc thang chạm trời
này c̣n cho biết, con người t́m kiếm chân lư gặp
nhau ở một đỉnh cao, nơi Thiên Chúa,
Người muốn bày tỏ. Mạc Khải từ Thiên
Chúa, từ ấy, có thể giải thích như một
điểm tựa trên cao cho chiếc thang từ
đất dựa vào. Không có sự mạc khải của
Thiên Chúa tự bày tỏ qua các dấu ấn là bằng
chứng sự hiện diện của Thiên Chúa, theo
nghĩa “luận cứ đồng quy đầy thuyết
phục”[4],
th́ chiếc thang từ đất sẽ ngă đổ v́
thiếu điểm tựa trên cao.
V́ thế, những con đường tâm linh
của Đông Phương, dù chưa gọi Danh chính xác
về Thiên Chúa nhưng họ cũng tin rằng có
Đấng vô h́nh và vĩnh hằng là điểm
đầu của chiếc thang để con người có
thể lên hay xuống trên chiếc thang ấy.
2.
Chiếc
thang nối giữa đất
và trời.
Chân lư tuyệt đối
là Một, nhưng có nhiều cách nhận thức, cách
nhận thức này giống như chiếc thang,
người ta dùng nhiều loại thang, cao dài thấp khác
nhau, nhiều góc cạnh vẫn quy về Một, Khổng
Tử viết: “Thiên hạ đồng qui nhi thù đồ,
nhất trí nhi bách lự” (nhiều đường nhưng
hướng về một chốn, trăm suy nghĩ
đều về một mối”. Người Tây
Phương th́ nói: “Tout chemin conduit à
Tri và hành là chiếc thang của Đông
phương, nguồn gốc của Đạo là Tâm. Tâm là
nguyên lư bao dung, hoà hợp để sống, không có thánh
chiến, không có huỷ diệt và loại bỏ. Biết
được Đạo trời mà sống Đạo
nhân là nguyên tắc của việc tri và hành, tri hành phân
biệt và không tách biệt. Là chiếc thang có chiều
đi lên và có hướng đi xuống. Từ Trời
nối Đất và từ Đất hướng lên
Trời. Đạo v́ thế, rất gần và rất xa,
ở trong tâm và vượt xa tâm.
Cây thang từ đất.
Không có siêu nhiên nếu không đặt trên
nền tảng tự nhiên, tự nhiên nâng đỡ siêu nhiên
trong hướng nh́n của chiếc thang đặt
gốc từ đất. Không có tự nhiên cũng
chẳng có siêu nhiên. Trở về với nguồn gốc
tự nhiên của ḿnh, người Đông Phương
đề cập đến chữ tính trong nhân tính của
ḿnh bao gốm bộ tâm và bộ sinh. Tâm là h́nh ảnh
biểu lộ trái tim, sinh là là sự sống. Trở
về với căn tính của nhân sinh là trở về
với nguồn gốc nhân tính của ḿnh, nguồn gốc
ấy là t́nh trời, t́nh trời làm cho sống và sống
sự sống dồi dào, bởi thế đạo nhân là
đạo lấy nghĩa mà đáp trả ân.
Thực tại siêu nhiên cắm rễ trong
tự nhiên, phương cách đi t́m chân lư của Đông
Phương cũng đề cao việc tĩnh lặng mà
chiêm ngắm huyền nhiệm. Chiêm ngắm trong tự nhiên
để nhận ra t́nh trời.
“Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên
Chúa,
không trung loan báo việc tay Người làm.
3 Ngày qua mách bảo cho ngày tới,
đêm này kể lại với đêm kia.
4 Chẳng một lời một
lẽ, chẳng nghe thấy âm thanh,
mà tiếng vang đă dội khắp hoàn
cầu”[5]
Con đường nhận thức của
Đông Phương cũng thấy trong con đường
của Thánh Kinh. Không nghe thấy âm thanh mà tiếng vang
dội lại khắp hoàn cầu. Con đường
nhận thức siêu việt khởi đi từ tự
nhiên ấy cũng gặp nơi tư tưởng của
Tagore, bài số 72, trong cuốn lời dâng.
“ Người là Đấng sâu thẳm thức
tỉnh tôi bằng những tiếp xúc sâu kín,
Người là Đấng thoa bùa mê trên cặp
mắt này và hoan hỷ gảy những dây đàn của
ḷng tôi theo những tiết tấu buồn vui phức
tạp.
Người là Đấng đan tâm mạng
ảo hoá lung linh sắc vàng sắc bạc, mầu biếc
mầu xanh và qua riềm xếp để lộ đôi chân
mà khẽ chạm là tôi đă quên ḿnh.
Ngày tới, thời qua, và Người vẫn
là Đấng hằng là Đấng xúc động tim tôi
bằng bao danh hiệu, dưới bao dáng vẻ, trong bao mê
đắm buồn vui.”[6]
Trong lời cầu nguyện của Hàn mặc
Tử chúng ta cũng gặp một tâm hồn câu nguyện
trong tĩnh lặng của hồn đau:
“Ta chắp hai tay lại quỳ hoan hảo,
Ngửa trông cao, cầu nguyện trắng không
gian.
Để vừa dâng vừa hiệp bốn mùa
xuân,
Nở một lượt giầu sang lên
Thượng Đế..”
II.
Linh Mục và Bí Tích.
H́nh ảnh người linh mục như
chiếc thang nối giữa trời và đất, là
một h́nh ảnh gợi ư đi từ cụ thể
đến siêu h́nh. Không chỉ dừng lại ở
chiếc thang vô tri, vật chất, nhưng c̣n là chiếc
thang kỳ diệu có suy tư, tự do và ư thức.
3.
Mầu
nhiệm trong sứ vụ của
chiếc thang.
Sự trống vắng cơi thiêng ngày càng gia
tăng trong đời sống tục hóa, là một đ̣i
hỏi nỗ lực hơn đối với những
chiếc thang nối giữa mầu nhiệm và cuộc
sống.
“Anh em hăy sống điều mà anh em sẽ chu
toàn và hăy uống ḿnh cho phù hợp với mầu nhiệm
Thập Giá của Chúa”. Đó lá lời gọi, huấn
dụ của Giáo Hội gửi tới các linh Mục trong
nghi thức phong chức. Nhận lănh sứ vụ của
một chiếc thang nối kết, người linh
mục trước tiên là người sống Mầu
Nhiệm trong đời sống thường nhật
của ḿnh. Mầu nhiệm
được thực hiện trong đời
thường thông qua các bí tích người linh mục
cử hành. Không thể lên xuống trên một chiếc thang
mục gẫy, như vậy đ̣i hỏi sự thánh
thiện nơi người mục tử, Công Đồng
Vat II quả quyết: “ Chính sự thánh thiện của các
linh mục là một đóng góp cốt yếu làm cho
thừa tác vụ mà các ngài chu toàn được hữu
hiệu; chắc hẳn ơn thánh của Thiên Chúa có
thể hoàn thành công tŕnh cứu độ ngay cả bởi
những thừa tác viên bất xứng. Nhưng, thông
thường, Thiên Chúa ưa thích biểu lộ những
sự việc cao cả của Ngài qua những con
người niềm nở và vâng theo sự thúc đẩy,
dẫn dắt của Chúa Thánh Thần, qua những con
người sống mật thiết với Chúa Kitô và
sống đời sống thánh thiện nhờ đó có
thể nói như Thánh Tông Đồ: “Nếu tôi sống th́
không c̣n phải là tôi sống, nhưng là Chúa Kitô sống
trong tôi: (Gl, 2, 20)”[7].
Chiếc thang đầu chạm trời.
Thực nghĩa của chiếc thang này là một đ̣i
hỏi vươn măi không ngừng. Người Đông
Phương khởi đi từ cụ thể đi
đến siêu h́nh cũng đặt một điều
kiện là biết “vô tri bất mộ”. Người Linh
mục là người biết Chúa nhiều hơn, con
đường biết này đi từ con đường
lư trí và từ con đừơng t́nh yêu. Lư trí không t́nh yêu là
duy lư, t́nh yêu không lư trí là cuồng tín. Biết Chúa hơn là
con đường học hỏi không ngừng, việc
biết Chúa không chỉ dừng lại sau thời gian
được học tại Chủng Viện nhưng con
là việc t́m biết trong những khoá đào tạo
thường kỳ theo chương tŕnh thường
huấn. Nền tảng của việc đào tạo
thường kỳ này là Đức Ái Mục Vụ.
Đức Ái Mục vụ thúc đẩy người Linh
mục khơi thắm lại những ân sủng của
Thiên Chúa đă ban tặng, Thánh Phaolô gửi cho Timothe lời
tâm huyết của ḿnh: “Đừng thờ ơ với
đặc sủng đang có nơi anh, đặc sủng
Thiên Chúa đă ban cho anh nhờ lời ngôn sứ, khi hàng
kỳ mục đặt tay trên anh.15 Anh hăy tha
thiết với những điều đó, chuyên chú vào
đó, để mọi người nhận thấy
những tiến bộ của anh.16 Anh hăy thận
trọng trong cách ăn nết ở và trong lời giảng
dạy. Hăy kiên tŕ trong việc đó. V́ làm như vậy,
anh sẽ cứu được chính ḿnh, lại c̣n cứu
được những người nghe anh giảng
dạy.”[8]
Thông thường trong các chức nghiệp
của đời sống, người ta vẫn đ̣i
hỏi các thành viên không ngừng trau dồi thêm kiến
thức của ḿnh, mỗi ngày tiến thêm hơn về
sự hiểu biết để tiến thêm hơn nữa
cho ngành nghề mà họ dấn thân. Sách Lễ kư dạy:
“Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học
bất tri đạo”, người học đạo
để biết rơ về đạo, có biết mới có
thể nói cho người khác, con đường học
ấy giống như con đường sinh lại
mỗi ngày trong sự hiểu biết.
Tông huấn Pastores Dabo vobis, số 51 dạy:
“Trong thực tế, nhờ việc học, nhất là
Thần học, người linh mục tương lai bám
víu vào Lời Chúa, lớn lên trong đời sống thiêng
liêng và có được tư thế sẵn sàng để
chu toàn thừa tác vụ mục từ.”
Con đường học biết đạo
theo Đông Phương c̣n là con đường biết
bằng chữ tâm. Tâm là nguồn cội của
Đạo, Tâm c̣n là định hướng, năng
lực để tiến bước. Khổng Tử
dạy học tṛ phải giữ cái tâm cho trung chính và
việc làm cho thành thực: “Quân tử tiến đức
tu nghiệp, trung tín, sở dĩ tiến đức giă: Tu
từ, lập kỳ thành, sở dĩ cư nghiệp giă.
Tri chíchí chi, khả dữ cơ giă; tri chung chung chi, khả
giữ tồn nghĩa giă”, nghĩa là: “quân tử tiến
đức tu nghiệp, trung tín để tiến
đức; tu tỉnh ngôn từ, lập cái thành thực
của ḿnh, là để giữ cái nghiệp vậy.
Biết chỗ đến mà đến chỗ ấy, là có
thể gần cái đức; biết chỗ cuối cùng mà
suốt đời giữ vững là có thể c̣n giữ
cái nghĩa vậy”.
Con đường tu đức như vậy,
vừa học biết đào luyện nhân, vừa học
biết đào luyện nên thánh, Lời Chúa dạy: “V́ Ta
muốn t́nh yêu chứ không cần hy lễ, thích
được các ngươi nhận biết hơn là
được của lễ toàn thiêu.”[9]
4.
Tri
và hành.
“Không phải bất cứ ai thưa với
Thầy: "Lạy Chúa! lạy Chúa! " là
được vào Nước Trời cả đâu!
Nhưng chỉ ai thi hành ư muốn của Cha Thầy là
Đấng ngự trên trời, mới được vào
mà thôi.22 Trong ngày ấy, nhiều người
sẽ thưa với Thầy rằng: "Lạy Chúa,
lạy Chúa, nào chúng tôi đă chẳng từng nhân danh Chúa mà
nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm
nhiều phép lạ đó sao? "23 Và bấy
giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không
hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt
Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!
"Vậy ai nghe những lời Thầy nói
đây mà đem ra thực hành, th́ ví được như
người khôn xây nhà trên đá”[10]
Nhân ái là một đức quan trọng trong
đời sống xây dựng nhân bản trong Nho giáo, là
một đức tính cần thiết để xây
dựng đạo nhân. Tinh thần người Việt
cũng thế, trọng t́nh cảm, lấy nguyên tắc
“lấy chín bỏ làm mười” để sống và
cư xử với nhau. Người có tài đức
vẹn toàn là người được chờ
đợi hơn cả. Tông huấn Patores dabo vobis,
nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lớn
lên hơn trong tiếp xúc thường ngày với
người khác và chia sẻ cuộc sống với
người khác: “linh mục cần phải trau giồi
tính nhạy bén nhân bản nhờ đó có thể hiểu
được những nhu cầu và đón nhận
những lời kêu cứu, có thể trực giác những
yêu cầu không được phát biểu bằng lời,
có thể chia sẻ những mối hy vọng và những
nỗi mong chờ, có đủ khả năng gặp
gỡ từng người và đối thoại với
mọi người”[11]
Như vậy, người Linh mục cần
trở nên giống Chúa Giêsu hơn, tự thân là chiếc thang
dẫn con người đến gặp gỡ Thiên Chúa. Là
người cử hành mầu nhiệm bí tích và cũng là
người làm cho bí tích ấy trở nên hữu h́nh nơi
chính ḿnh. Chỉ có một con đường nhất
thiết để theo là làm cho Lời của Chúa thành
sự thực nơi ḿnh. Đây là một đ̣i hỏi bao
gồm các việc đào luyện:
Nhân bản: Linh mục được mời
gọi sống mầu nhiệm Nhập Thể nơi Con
Thiên Chúa làm người, để cảm thông và chia sẻ
những đau khổ, lo âu, trách nhiệm nơi anh chị
em được sai đến.
Nhạy bén: Về những đau khổ,
những dấu chỉ của thời đại, những
hy vọng ở tương lai để dẫn dắt
cộng đoàn được trao phó.
Là chiếc thang thực sự, để con
người qua việc gặp gỡ với linh mục
bằng xương bằng thịt, họ gặp
được Đấng mà họ không thấy. Đây có
thể nói chính linh mục phải trở nên bí tích theo
nghĩa hiện tại hoá khuôn mặt của Chúa Giêsu
nơi trần thế, và là một minh chứng
Người đang sống ở giữa chúng tôi. Đó là
một kerigma các Tông Đồ tiên khởi đă sống.
5.
Con
người chân đạp đất.
Điều khó khăn nhất trong niềm tin
Kitô giáo là việc người ta tin rằng Thiên Chúa là
Đấng Toàn Năng lại biểu lộ nơi con
người tử tội, một Thiên Chúa là T́nh Yêu lại
thinh lặng trước sự dữ, Một Thiên Chúa Vô
h́nh lại mặc lấy thân xác hữu h́nh. Người là
Thiên Chúa - người, một người ở giữa
chúng ta, Người cho chúng ta biết về ư định
yêu thương của Thiên Chúa. Một con người
như chúng ta, có chỗ đứng trên một quê
hương, có tất cả như một con người,
ngoại trừ tội lỗi. Sứ vụ và hoạt
động của Người bắt nguồn từ
sự hiệp thông của Thiên Chúa, đồng thời
cũng mở đường cho tất cả những ai
tin vào Người cũng được thông hiệp
với Ba Ngôi. Nhà thần học Romano Guardini đă sung
sướng và kinh ngạc khi đề cập đến
quan hệ giữa màu nhiệm vượt qua và màu nhiệm
Ba Ngôi: “Trong ḷng Thiên Chúa Ba Ngôi có ‘một con người’.
Này là Người trong Thiên Chúa (Ecce homo in Deo)”.
Một con người có chân đứng ở
dưới thế nhưng có đầu chạm trời
cao nhờ Đức Giêsu Kitô Con Thiên Chúa, Người
đă làm người ở giữa chúng ta và măi măi làm
người khi phục sinh trở về nơi Thiên Chúa.
Con người có một vị trí nơi Ba Ngôi Thiên Chúa,
điếu này chưa bao giờ có, chỉ nơi
Đức Giêsu Kitô Phục sinh niềm hy vọng lớn
lao của nhân loại mới được thắp sáng.
Như vậy, con người có một vị
trí rất đặc biệt nơi Thiên Chúa. Nhấn mạnh
điều này để thấy rằng: Cuộc sống
của mỗi con người cần được tôn
trọng, không chỉ là phù vân, sớm nở tối tàn,
không chỉ là một hạt bụi hoá kiếp, không là
giọt nắng, giọt mưa mau tan biến. Con
người có và từ ấy có tất cả.
Siêu nhiên không triệt tiêu tự nhiên nhưng làm
cho tự nhiên trở nên phong phú, con người trong
điều kiện sống tự nhiên của ḿnh cũng
cần siêu nhiên nâng đỡ để có chiều
đứng xứng đáng như một con người.
Linh Mục trong khi thi hành tác vụ của ḿnh, trở nên
giống Chúa Giêsu hơn có nghĩa là làm cho phẩm giá con
người được tôn trọng hơn, yêu
thương gắn bó với con người hơn.
Giống Đức Giêsu yêu thương như “Thầy yêu
thương” là tiêu chuẩn của người linh
mục.
“ Lạy Trời, rượu thiêng nào
người rót đời tôi đầy tràn … Người
đă tự hiến cho tôi trong t́nh yêu và rồi cảm
thấy hết ngọt ngào của Người trong tôi”[12]
Người linh mục và h́nh ảnh chiếc
thang gợi lên những ḍng suy nghĩ này, xin
được măi là chiếc thang nối huyền nhiệm
vào trong cơi thế, và nối cơi thế vào trong huyền
nhiệm. Ước mong của người linh mục
như chiếc thang là trở nên giống Thầy ḿnh,
trở nên bí tích cho mọi người.
[1] Is 40, 11.
[2] St 2, 4 – 8.
[3] Ep 1, 9 -10.
[4] Augustin.
[5] Tv 18, 2- 4.
[6]
Khúc hát dâng đời, Tagore, bản dịch Phạm Hồng
Dung và Phạm Bích Thuỷ, nhà sách Nguồn sáng xuất bản,
1971, trang 42.
[7]
Sắc lệnh về thừa tác vụ và đời sống
linh mục, Lm số 12.
[8] 1Tm 4, 14 -16.
[9] Hs 6, 6.
[10] Mt 7, 20 - 24
[11]
Pastores Dabo Vobis, số 72.
[12]
Lời dâng, Tagore, bài số 65.