Linh Mc và Li Chúa.

 

 

“Con vô phúc quá, mẹ ơi, mẹ sinh con ra làm ǵ,

để cho người ta chống đối, cho cả nước gây gổ với con?

Con chẳng cho ai vay, cũng không mượn của người,

thế mà vẫn cứ bị nguyền rủa.

….

Gặp được lời Chúa, con đă nuốt vào,

lời Ngài làm cho con hoan hỷ,

làm vui thoả ḷng con, v́ con được mang danh Ngài,

lạy ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa các đạo binh.”[1]

 

1.       Nhng h́nh nh trong dân gian:

 

Mượn những h́nh ảnh quen thuộc để nói về các đức tính, là cách nói khởi đi từ những ǵ gần gũi với cuộc sống để dẫn đến nơi muốn đến. Trong cách nói ấy, có những h́nh ảnh ví von mà người Việt thường thích ví von để nói điều muốn nói. Lời v́ thế, có khi bằng ngôn từ nhưng có khi cũng bằng những h́nh ảnh tượng trưng. Dẫu sao vẫn muốn nói một điều mà Thánh Vịnh 18 ví von ca tụng:

“Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa,

không trung loan báo việc tay Người làm.

Ngày qua mách bảo cho ngày tới,

đêm này kể lại với đêm kia.

Chẳng một lời một lẽ, chẳng nghe thấy âm thanh,

mà tiếng vang đă dội khắp hoàn cầu

và thông điệp loan đi tới chân trời góc biển.

Chúa căng lều cho thái dương tại đó,

thái dương xuất hiện như tân lang rời khỏi loan pḥng,

và vui sướng lên đường như tráng sĩ.

Từ chân trời này, thái dương xuất hiện,

rồi chuyển vần măi đến chân trời kia,

chẳng có chi tránh khỏi ánh dương nồng”[2].

 

Trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn thẳng:

Người xưa có câu: “Trúc dẫu cháy, đốt ngay vẫn thẳng”. Trúc là loại cây thuộc họ tre nứa, mai, vầu. Thân trúc có nhiều đốt, tất nhiên có đốt thẳng có đốt cong. Khi bị thiêu cháy trên cây, tàn tro vẫn nằm dài trên đất và vẫn giữ được độ cong thẳng của từng đốt cây.

Người Việt dùng h́nh ảnh của cây trúc để nói đến tính cách của con người. người thẳng thắn, ngay thật giống như đốt trúc thẳng. Kẻ lèo lái quanh co cũng giống như đốt trúc cong. Sự thiêu cháy là để minh chứng cho sự ngay thẳng hoặc để thử luyện độ quanh co. Người ta vẫn dùng lửa để uốn ngay khúc cong mà làm cho trở nên thẳng. Lửa ví như Lời, Lời để chinh phục và Lời để uốn ngay, phân xẻ.

V́ là dùng lửa không thời nào mà không có thử người ngay thẳng và uốn nắn kẻ quanh co. Người thẳng thắn dù có gặp gian nan khốn khổ vẫn không đổi ḷng và vẫn giữ vẻ đẹp của đời thanh cao. Kẻ quanh co, lửa uốn không nổi th́ hoá tro, tàn cuộc vẫn quanh co. Người quanh co uốn ngay th́ vẫn được dùng như những con người đă qua rèn luyện, để là người hữu ích.

Cuộc sống có những lời không thể mai một, bởi v́ lời ấy có dấu vết của chân lư, có h́nh ảnh của con người sống sự thật. Người ta có thể giết chết được một con người chứ không thể bóp nghẹt được những lời chân thật. “Sự thật sẽ giải thoát anh em” là một sự thật của những thân trúc ngay đốt cháy tàn tro vẫn thẳng. Sự thật cần thiết cho mọi thời đại, mọi cuộc sống.

Bên cạnh những lời sự thật có những lời dối trá, lời của những kẻ hai ḷng, lời xu nịnh, lời để lèo lái sự thật. Những lời ấy có khi vẫn có thể tồn tại, nhưng tồn tại để tố cáo chính những con người đă không sống trong sự thật.

Có thử lửa mới biết lời nào có sức mạnh, lời nào khiến để hư đi.

Trong một thế giới người ta bóp nghẹt lời sự thật, đó là bằng chứng tố cáo về một thế giới giả dối vắng bóng sự thật. Lời v́ thế, có thể là một bất hủ có thể là lời tố cáo. Sở dĩ người ta vốn sợ những lời là bởi v́ người ta không thể giết chết được lời: “Trăm năm bia đá cũng ṃn, ngàn năm bia miệng vẫn c̣n trơ trơ”.

 

2.       Li có mt sc mnh đng viên:

 

Lịch sử Đất Việt có cả ngàn câu nói bất hủ, được ghi thành sổ sách mà nhiều ngàn năm suy nghĩ nữa cũng không cũ. Trong những lời vàng ấy, ắt hẳn có những lời của Thái Uư Lư Thường Kiệt đọc lên tại sông Cầu, bên Đền Trương Hát.

Lư Thường Kiệt tên thật là Ngô Tuấn, sinh năm 1019, quê phường Thái Hoà, Thành Thăng long. Là một con người chí khí, say sưa thánh hiền. Triều Lư Thái Tôn ông được phong chức Hoàng Môn Chi hậu, mấy lần được thăng chức Đô tri ở Nội Sảnh, Lư Thánh Tông phong cho ông làm Thái Bảo, trao cho Tiết Việt. Năm Thiên Hướng Bảo Tượng thứ 2 (1059) trước việc Nhà Tống viện trợ cho vua Chế Củ, vua nước Chămpa để đưa quân sang đánh miền Nam nước Đại Việt, và quân Tống đánh phía Bắc. Trong t́nh h́nh đó, Lư Thường Kiệt cùng vua Lư Thánh Tông đem quân đi đánh Chămpa để dẹp tan thế liên minh đó, bắt được Chế Củ vua nước Chămpa, Chế Củ phải cắt ba đất: Bố Chính, Địa Lư, Ma Linh (Quảng B́nh và Bắc Quảng Trị) cho nhà Lư.

Do công lao ông được phong là Phụ quốc Thái Phó và nhận chức Tiết Độ cho các trấn xa, đồng trung thư môn hạ, Thiên Tử Nghĩa Đệ Phụ Quốc Thượng Tướng quân, Khai quốc Công.

Năm 1072, Lư Thánh Tông băng hà, Lư Nhân Tông mới 7 tuổi lên thay, vua Tống coi đó là thời cơ đánh Đại Việt. Vua Tống tập trung quân đánh ở 3 châu :Ung, Khâm, Liêm để xâm lược Đại Việt. LưThường Kiệt chủ trương tấn công giặc trước. Kế sách của Lư Thường kiệt là dương Đông kích Tây.cuối tháng 9 năm Ất Măo (10- 1075) Tồng Đản vượt biên giới đánh phá năm liên trại. Lư Thường kiệt chỉ huy 60.000 quân vướt biển đánh vào Nhà Tống. Lư Thường kiệt chia quân thành hai cánh đánh Khâm Châu và Liêm Châu. Tướng Tông là Trần Vĩnh Thái phải xin hàng, tướng Lỗ Khánh Tồn ở Liêm Châu bị hạ. ngày 4 táhng giêng năm Bính Th́ (11 – 2 -1076, quân ta bắt được trên 10.000 binh sĩ Nhà Tống, Trương Thủ Tiết chỉ huy cánh quân này bị giết chết. Ngày 1 tháng 3 năm 1076, sau 41 ngày Đại Việt hạ được thành Ung Châu. Biết quân Tống sẽ có âm mưu xâm lược trở lại, Lư Thường Kiệt cho quân đi do thám, biết rơ quân Tống sẽ đưa 10.000 bộ binh, 1.000 ngựa và 20.000 dân phu. Cuối năm 1076 quân Tống tràn vào Nước ta, trấn thủ ở dọc sông Cầu không cản nổi quân Tống, Quách Quư tướng của nhà Tống cho bắc cấu phao vượt sông để chọc thủng pḥng tuyến Sông Như Nguyệt, một cánh quân đă tiến về Thăng Long, Lư Thường Kiệt tổ chức phản công, quân Tống bị thiệt hại nặng, rút chạy về phía Bắc sông Cầu. Hai Ḥang Tử Hoàng Chân và Chiêu Văn dùng 400 chiến thuyền đánh sang bờ Bắc đều bị hy sinh. Lư Thường Kiệt dẫn đại quân đánh thốc sang bờ, quân Tống đại bại. Giữa lúc đánh tại trại giặc th́ từ Đền Trương Hống, Trương Hát ở bờ Nam sông Như Nguyệt, ḍng thơ thần được ngâm lên:

Nam quốc Sơn hà, Nam Đế cư. Tiệt nhiên định phận tại thiên thư. Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm. Như đẳng hành khan thủ bại hư”. 

“Sông núi Nước Nam, vua Nam ở. Rành rành ghi rơ ở sách Trời. Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm, chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”.

Lời ấy được vang lên ngay giữa cuộc chiến, tất cả quân lính truyền nhau như một lời hiệu triệu, vừa tăng thêm sức lực vừa gia tăng thêm ư chí. Cần thiết thay những lời vàng ngọc!

Sau khi giặc Tống tan, năm đầu Long Phù (1101) ông được thăng lên chức nội thị phán thủ đô áp nha, coi tất cả công việc trong ngoài điện. Ông c̣n dẹp yên loạn Lư Giác, và giặc Chiêm, sau đó năm thứ 5, ông mất, được tặng nhập nội điện đô tri kiểm hiệu Thái Uư, b́nh chương quân quốc trọng sự, tước Việt quốc Công và thực ấp vạn hộ.

Lư Thường kiệt được dân chúng yêu mến nhờ tài binh thao và  chí khí kiên cường, đứng đầu các tước hầu. Ông được phong thần và dân chúng lập Đền thờ ở quận Đống Đa, Hà Nội.

Sống là một người chí khí giữa cơn loạn lạc đâu dễ mấy có ai, cũng đâu dễ mấy có ai, giữa lúc giao tranh lại có những lời thơ thần được vang lên để hiệu triệu. Nếu cuộc sống không đầy nhiệt huyết làm sao có thể tràn ra trong mọi lúc, chính lời thơ thần ấy mà không bại trận, mang lại chiến thắng, hun đúc cả ngàn năm sau một ḷng yêu nước thương dân.

Ta gặp thấy trong con người Giêsu những lời hiệu triệu mạnh mẽ đó, giữa những lo âu chịu sự bách hại, các tông đồ, những người theo Chúa Giêsu trước kia, lẩn trốn. Ngài hiện ra và nói với họ: “Đừng sợ” như khi trong lúc rao giảng công khai, Ngài vẫn dạy:

Đừng sợ sự thật: “"Vậy anh em đừng sợ người ta. Thật ra, không có ǵ che giấu mà sẽ không được tỏ lộ, không có ǵ bí mật, mà người ta sẽ không biết.27 Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, th́ hăy nói ra giữa ban ngày; và điều anh em nghe rỉ tai, th́ hăy lên mái nhà rao giảng.”[3] 

Đừng sợ kẻ giết được thân xác: “"Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hăy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục”[4]

"Thầy đây mà, đừng sợ! "[5]

Đă bao nhiêu làn chúng ta nghe lời của Chúa “Đừng sợ” mà ta vẫn sợ, sợ mất địa vị, sợ mất quyền lợi, sợ mất những ǵ đang được hưởng. V́ t́nh yêu đối với Thầy quá ít?

Lạy Chúa, xin cứu giúp chúng con sống Lời Người cho xứng đáng.

 

3.       Li có th đem li cái chết.

 

Có những lời khẳng khái làm cho mất mạng, có những người không quan trọng về chỗ đứng của ḿnh cho bằng giữ được lời của sự thật. Trong một bối cảnh, những lời xu nịnh thắng thế, sống ngay thẳng không bao giờ là điều dễ dàng. Thế nhưng vẫn ray rứt một thời gian rất dài, lời chân thật vẫn hằng vọng lại để nhắc nhở những sự thật. Sự thật bền vững không có ǵ đổi thay sự thật, lời dối trá có thể thắng nhưng là cái thắng nhất thời, ngàn năm chịu sự nguyền rủa, giữ được sự thật, có thể vong mạng, nhưng mạng này trở nên lời chứng muôn thưở. Trong lịch sử Đất Việt không ai không biết con người dám sống sự thật mà chịu tai hoạ “chu di tam tộc” là quan hành khiển Nguyễn Trăi.

Sau chiến tranh hàng loạt anh hùng lam Sơn lần lượt bị tha hoá, những lợi ích cá nhân làm sao nhăng việc nước. Trong thời nhũng nhiễu đó, Nguyễn Trăi nổi tiếng là người cương trực xem như một cái gai mà nhiều người xu nịnh muốn nhổ.

Đă có nhiều lần Nguyễn Trăi muốn rút lui nhưng nào có êm. Đại Việt sử kư toàn thư chép: “Hành khiển Nguyễn Trăi dâng bản vẽ những chiếc khánh đá và tâu vua (Lê Thái Tông) rằng:

“Kể ra th́ đời loạn trọng vơ, thời b́nh trọng văn. Nay quả ra rất đúng phải chế ra các loại lễ nhạc. nhưng nhạc phải có gốc mới đứng, phải có văn mới hành. Hoà b́nh là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc vậy. Thần vâng chiếu soạn nhạc, dám đâu không dốc hết sức ra mà làm, nhưng v́ học thuật th́ nông cạn, chỉ sợ thanh luật chẳng được hài hoà. Cúi xin bệ hạ thương yêu và nuôi nấng muôn dân, khiến cho mọi xóm thôn không c̣n tiếng oán hờn, buồn khổ, như thế mới giữ cho cái gốc của nhạc”[6].

Vua khen ngợi và tiếp nhận rồi sai thợ đá ở huyện Giáp Sơn lấy đá ở Kinh Chủ để làm khánh. Ngay khi thợ đá bắt tay vào việc, nhà vua lại sai thêm Lương Đăng hợp sức, ư kiến của hai người không thể dung hoà, Nguyễn Trăi xin thôi không làm việc này nữa. Sách Khâm Định Việt sử thông giám cương mục, có lời phê rất đúng: “Lời tâu này của Nguyễn Trăi tuy đă nói đúng được cái gốc của nhạc nhưng nếu thi hành th́ khó đấy. Đủ thấy hành vi của một con người trung trực thương dân là thế, lấy sự an b́nh trong dân làm gốc cho nhạc, có mấy thời, mấy người biết nghĩ như vậy. Tan cuộc chiến, vua và quan lo vơ vét, an hưởng mà quên đi chữ t́nh non nước. Nhung lụa làm mờ mắt lương tri, tai thích nghe lời ngọt mà hại đến dân. Trong thời thụ hưởng, thích thói xu nịnh ấy c̣n chỗ nào đứng nữa cho người chân chính, liêm sỉ.

Cũng trong những cảnh vua quan thích xu nịnh ấy, lời của những người sống thẳng vẫn phải thốt lên. Sách Đại Việt sử kư toàn thư chép: “Bọn quan hành khiển là Nguyễn Trăi, quan Tham tri ba tịch là Nguyễn Truyền, Đào Công Soạn, Nguyễn văn Huyến và quan Tham nghị là Nguyễn Liễu cùng nhau dâng sớ nói rằng: Lễ nhạc tốt cốt ở người tài, làm như Chu Công thưở xưa mới mong khỏi bị chê trách. Nay, nhà vua sai bọn hoạn quan là Lương Đăng định ra lễ nhạc, thế chẳng phải là nhục nhă cho xă tắc lắm sao? vả lại, quy chế lễ nhạc của hắn, trên th́ dối vua, dưới thí lừa quan, không dựa vào đâu cả…”. “”vả lại, Luơng Đăng là tên hoạn quan, quanh quẩn chầu hầu bên cạnh vua, chúng thần trộm lấy làm đối nghịch lắm”[7].

Nói những điều ấy ra, biết chắc rằng vua chẳng đời nào nghe, nhưng làm sao có thể im tiếng, bởi im lặng là hèn, cũng là cầu chút lợi danh, chẳng khác ǵ bọn hoạn quan xu nịnh. Không thể dập tắt lời của người chính trực, cũng như không thể che dấu được sự thật. Trong vụ án “Lệ chi viên”, người ta có thể giết chết và hạ nhục Nguyễn Trăi, nhưng làm sao giết được tâm hồn, thanh danh của một con người chính trực. Cho nên hậu thế vẫn thấy vụ án “Lệ Chi viên” là dấu ô nhục của một thời loạn thần những vơ cùng vét, một thời ô nhục của những miếng ăn, địa vị, quyền chức.

Xem ra sống xứng đáng là người giữ được lời chính trực th́ khó thật. Khó mới làm nên những con người xứng đáng lưu danh.  

 

Chúa Giê su cũng v́ tiếng nói của Người mà thiệt thân, đă bao lần Người đứng lên tố cáo những người có quyền:

“Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng, v́ các ngôn sứ giả cũng đă từng được cha ông họ đối xử như thế”[8].

"Thật, nhóm Pha-ri-sêu các người, bên ngoài chén đĩa, th́ các người rửa sạch, nhưng bên trong các người th́ đầy những chuyện cướp bóc, gian tà. Đồ ngốc! Đấng làm ra cái bên ngoài lại đă không làm ra cái bên trong sao? Tốt hơn, hăy bố thí những ǵ ở bên trong, th́ bấy giờ mọi sự sẽ trở nên trong sạch cho các người. Khốn cho các người, hỡi các người Pha-ri-sêu! Các người nộp thuế thập phân về bạc hà, vân hương, và đủ thứ rau cỏ, mà xao lăng lẽ công b́nh và ḷng yêu mến Thiên Chúa. Các điều này phải làm, mà các điều kia cũng không được bỏ. Khốn cho các người, hỡi các người Pha-ri-sêu! Các người thích ngồi ghế đầu trong hội đường, thích được người ta chào hỏi ở nơi công cộng. Khốn cho các người! Các người như mồ mả không có ǵ làm dấu, người ta giẫm lên mà không hay." Một người trong số các nhà thông luật lên tiếng nói: "Thưa Thầy, Thầy nói như vậy là nhục mạ cả chúng tôi nữa! "Đức Giê-su nói: "Khốn cho cả các người nữa, hỡi các nhà thông luật! Các người chất trên vai kẻ khác những gánh nặng không thể gánh nổi, c̣n chính các người, th́ dù một ngón tay cũng không động vào.

"Khốn cho các người! Các người xây lăng cho các ngôn sứ, nhưng cha ông các người đă giết chết các vị ấy! Như vậy, các người vừa chứng thực vừa tán thành việc làm của cha ông các người, v́ họ đă giết các vị ấy, c̣n các người th́ xây lăng.

"V́ thế mà Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa đă phán: "Ta sẽ sai Ngôn Sứ và Tông Đồ đến với chúng: chúng sẽ giết người này, lùng bắt người kia. Như vậy, thế hệ này sẽ bị đ̣i nợ máu tất cả các ngôn sứ đă đổ ra từ tạo thiên lập địa, từ máu ông A-ben đến máu ông Da-ca-ri-a, người đă bị giết giữa bàn thờ và Thánh Điện. Phải, tôi nói cho các người biết: thế hệ này sẽ bị đ̣i nợ máu.

"Khốn cho các người, hỡi những nhà thông luật! Các người đă cất giấu ch́a khoá của sự hiểu biết: các người đă không vào, mà những kẻ muốn vào, các người lại ngăn cản."

Khi Đức Giê-su ra khỏi đó, các kinh sư và các người Pha-ri-sêu bắt đầu căm giận Người ra mặt, và vặn hỏi Người về nhiều chuyện, gài bẫy để xem có bắt được Người nói điều ǵ sai chăng”[9].

 

4.       Li Chúa như thanh gươm hai lưỡi:

 

Lời phân xẻ tâm hồn.

 

“Lời Thiên Chúa là lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi: xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tuỷ; lời đó phê phán tâm t́nh cũng như tư tưởng của ḷng người.13 V́ không có loài thọ tạo nào mà không hiện rơ trước Lời Chúa, nhưng tất cả đều trần trụi và phơi bày trước mặt Đấng có quyền đ̣i chúng ta trả lẽ.”[10]

Một hôm có người bạn trẻ đến hỏi tôi. “Thưa cha, cha nghĩ sao về Lời Chúa, có lúc con đọc con cảm thấy như Lời ấy lên án hành động của con, con không thích đọc Lời Chúa nữa”. Thật có lúc chúng ta cũng có cảm nghiệm như diễn tả của người thanh niên, Lời Chúa như thuốc đắng, đôi khi muốn chạy trồn nhưng chẳng sao chạy trốn được. Là Linh Mục, ngày nào cũng đọc, chẳng những đọc mà c̣n là công bố Lời Chúa. Lời Chúa từ một con người chưa sống được mà c̣n có nhiệm vụ chia sẻ Lời Chúa, thật là khó đối với thừa tác viên của Lời Chúa. Sự mâu thuẫn ấy cứ giằng co, đôi khi giống như tâm sự của Giêrêmia:“Có lần con tự nhủ: Tôi sẽ không nghĩ đến Người, cũng chẳng nhân danh Người mà nói nữa." Nhưng nào có được, nếu không nói th́ thật giống như Thánh Phao lô thổ lộ: “Thật vậy, đối với tôi, rao giảng Tin Mừng không phải là lư do để tự hào, mà đó là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm. Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng”. Bởi Linh mục là người lănh nhận sứ vụ rao giảng Tin Mừng một cách công khai trong ngày truyền chức, khi Giám Mục trao sách Thánh và tuyên xưng lại vào mỗi thứ Năm Tuần Thánh hằng năm:” Con hăy tin điều con đọc, dạy điều con tin và sống điều con dạy”. Một sứ vụ được trao, được nhắc đi nhắc lại thường xuyên cho thấy tầm quan trọng và không thể thoái thác hay chạy trốn trước sứ vụ. Đón nhận sứ vụ với hết cả t́nh yêu của ḿnh mới có thể thấy được niềm vui, khi đó, giống như một người trân trọng giữ lấy kỹ lưỡng và đọc đi đọc lại lá thư của t́nh yêu. Bằng trái tim mới hiểu được điều trái tim Thiên Chúa muốn viết. Lời Chúa có sức mạnh phân xẻ tâm hồn nhưng lại là một Lời ngọt ngào chữa lành cần thiết: “Lời Ngài cứ như ngọn lửa bừng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt”[11]. Lời Chúa, nếu đă một lần nghiệm thấy sẽ thấy thật như Giêrêmia cảm nghiệm.

Hăy cảm nghiệm Lời Chúa bằng cách sống bắt đầu từ một câu Lời Chúa để thu hút tâm điểm đời ta và từ ấy, nguồn suối sự sống Lời Chúa tuôn chảy vào đời ta.

 

Một người có hai chiếc thùng lớn để khuân nước. Một trong hai chiếc thùng có một vết nứt, v́ vậy khi khuân nước từ giếng về nước trong thùng chỉ c̣n một nửa. Chiếc thùng c̣n nguyên rất tự hào về sự hoàn hảo của ḿnh, c̣n chiếc thùng nứt luôn bị cắn rứt v́ không thể hoàn thành nhiệm vụ. Một ngày nọ, chiếc thùng nứt nói với người chủ: “Tôi thật sự xấu hổ về ḿnh. Tôi muốn xin lỗi ông!. “Ngươi xấu hổ về chuyện ǵ?”. “Chỉ v́ lỗi của tôi mà ông không nhận được đầy đủ những ǵ xứng đáng với công sức của ông!”. “Không đâu, khi đi về ngươi hăy chú ư đến những luống hoa bên vệ đường”. Qủa thật, dọc theo bên đường là những luống hoa thật rực rỡ. Chiếc thùng nứt cảm thấy vui vẻ được một lúc, nhưng rồi về đến nhà nó vẫn chỉ c̣n phân nửa nước. “Tôi xin lỗi ông!”. “Ngươi không chú ư rằng hoa chỉ mọc bên này đường, phía của ngươi thôi sao? Ta đă biết được vết nứt của ngươi và đă tận dụng nó. Ta gieo những hạt giống hoa bên vệ đường phía bên ngươi và trong những năm qua ngươi đă vun tưới cho chúng. Ta hái những cánh hoa đó để trang hoàng căn nhà. Nếu không có ngươi, nhà ta không ấm cúng và duyên dáng như thế này đâu”.

Một lần một người tâm sự với tôi về suy nghĩ cảm nghiệm của họ:

“Tôi giống như chiếc thùng rỉ mà Thiên Chúa đă dùng tôi để gánh nước. Cuộc sống bất ṭan này Thiên Chúa đă dùng tôi như một khí cụ thể hiện t́nh yêu thương của Chúa. Tôi một con người bất ṭan, đầy những yếu đuối, đầy những đổ vỡ, Thiên Chúa Người đă dùng tôi và tôi thấy tôi được diễm phúc.

Nhiều năm trước đây, khi chưa biết được Người là Cha của tôi, tôi đă phung phá ân sủng của Người, tôi giống như người con đi hoang ở trong dụ ngôn người cha nhân hậu. Tôi cảm nhận được khuôn mặt của người Cha nhân hậu ấy. Cứ  từng chiều, những lúc trời lâm thâm vài giọt mưa hay c̣n đọng lại ít nắng, Người đă đợi tôi từ những cuộc vui trở về. Đó là những cuộc vui của dụ ngôn ngày xưa, hôm nay những cuộc vui ấy lại thâu đêm suốt sáng, Người vẫn chong đèn đợi chờ tôi. Người đă chờ tôi không chỉ một hay hai đêm, sự chờ đợi ấy trong suốt hơn hai mươi năm cách xa của tôi. Ngày ấy, trước khi bước vào đời sống hôn nhân, tôi vẫn là một người con sống thân t́nh với Chúa, nhửng thay đổi trong cuộc đời từ sau cuộc hôn nhân. Tôi đă nhiều lần tản cư hết nơi này đến nơi khác. T́nh yêu đối với Chúa cũng dần dần mờ nhạt trong cuộc sống của tôi. Những thay đổi có ai nào ngờ thay đổi hẳn cách thế sống làm con đối với Chúa. Tôi đă không c̣n nhận Thiên Chúa là Cha tôi nữa, tôi cũng chẳng c̣n tha thiết sống những tâm t́nh của trẻ thơ đối với Cha trong tuổi thơ ấu của tôi nữa. Thiên Chúa đă chết trong tôi từ ngày ấy, không phải Người đă khai tử tôi nhưng chính tôi đă khai tử Người trong cuộc sống của tôi. Nếu ngày ấy tôi kinh nghiệm hơn t́nh yêu của Thiên Chúa là Cha, như tôi kinh nghiệm ngày hôm nay, có lẽ đời tôi đă không mồ côi trong suốt hơn hai mươi năm. Thật sự hôm nay tôi lại được biết khuôn mặt người cha nhân hậu trong dụ ngôn, tôi nhận ra ngay cả lúc tôi có khước từ Thiên Chúa, Người vẫn không khước từ tôi, Người vẫn chờ đợi tôi trong yêu thương và Người đă dành một t́nh yêu thật lớn lao của Người cho tôi suốt hơn hai mươi năm qua.

Kinh nghiệm ngày qua cho tôi thấy, t́nh yêu thương của Cha trên trời Người vẫn yêu thương tôi, mặc dù người cha sinh ra tôi đă khước từ tôi, bởi tôi không chiều theo sự sắp đặt hôn nhân của cha tôi. Tôi đă quyết định rời bỏ gia đ́nh và rời bỏ cả Chúa để sống theo sự lựa chọn của tôi. Chúng tôi vẫn yêu thương nhau mặc dù không khá giả lắm, con cái vẫn học hành tốt đẹp, những đứa con của tôi đă chẳng được rửa tội, bởi chính bản thân tôi cũng có đến Nhà Thờ từ ngày lấy chồng đâu. Cứ vậy ḍng đời trôi qua, tôi vẫn ơ hờ với Chúa, cuộc sống tôi không có ǵ là đáng trách, nên Chúa vẫn ở bên ng̣ai cuộc đời của tôi. Tôi sống như người không có đạo, ba tôi mất, tôi có dịp trở lại nhà và đi dự lễ an táng của ba tôi. Vẫn chẳng có ǵ đánh động tâm hồn tôi, bởi v́ cuộc sống quanh tôi c̣n có nhiều chuyện phải lo, phải ưu tư. Rồi cũng thế, mẹ tôi cũng không c̣n, tôi vẫn sống thờ ơ với Chúa. Tôi không hiểu tại sao tôi có thể thờ ơ đến vậy, nhiều lúc tôi cảm thấy sợ hăi trong cô đơn, tôi cũng chẳng c̣n nhớ tới Chúa để cầu nguyện.

Những cứng cỏi trong tôi, ngày mỗi ngày lại ṃn đi, khi từng đứa con của tôi ra riêng tạo lập gia đ́nh. Sự vắng mặt của từng đứa con lại đưa tôi về nỗi sợ hăi của cuộc đời cô độc. Không rơ từ khi đứa con nào của tôi ra ở riêng, tôi bắt đầu cầu nguyện, đọc Thánh Kinh, nhất là những trang Tân Ước. Lời cầu nguyện trong Tân Ước phác hoạ ra cho tôi con đường trở về đầy nước mắt của tôi. Những giọt nước mắt ân hận v́ đă đi hoang, những giọt nước mắt của một tội nhân khi khộng c̣n ǵ bám víu mới chạy về với Chúa. Làm sao tôi có thể tha thứ cho tôi, nếu tôi không gặp thấy h́nh ảnh hai người lên đền thờ câu nguyện trong Tân Ước thuật lại. Tôi khóc lặng lẽ cúi đầu, những giọt nước mắt ăn năn vừa là những giọt nước mắt mặn của ngày tháng xót xa, nhưng lại cũng là những giọt nước mắt của mừng vui v́ ṿng tay Chúa đón về.

Giọt nước mắt lần đầu tiên của tôi cảm nhận có lẽ ướp đầy sự đau khổ của Chúa trong hơn hai mươi năm chờ đợi tôi, giống như tôi đang cảm nghiệm sự đau khổ ấy của từng chiều đợi đứa này trở về, mong đứa khác thăm lại mẹ xưa. Những chiều ngong ngóng làm tôi bật thành tiếng khóc và cũng từ tiếng khóc nhớ nhung ấy, tôi lại được trở về lại với gia đ́nh của Thiên Chúa, để được gọi lại tiếng gọi thân thương ngày nào: Abba, “Cha Ơi” . Đây là lúc  tôi cảm nghiệm trong nỗi cô đơn hơn bao giờ hết để gọi cho được tiếng “Cha ơi” làm mát lại cuộc đời. Tôi đă trở về với kinh nguyện thưở nào quên lăng, trở về với những trang sách Thánh Kinh để cầu nguyện cho những đứa con của tôi và trong tôi mỗi ngày lại rạo rực hơn muốn được t́m đến với Chúa và giao ḥa lại với Người.

Tôi về lại Sài G̣n để sống những năm c̣n lại của cuộc đời của tôi, một phần con cái trưởng thành và cũng đă ở Sàig̣n hết, tôi cũng chẳng c̣n lư do ǵ để ở lại miền quê.  Hơn hai mươi năm qua và bây giờ tôi được sống lại t́nh Cha con với Thiên Chúa, đánh dấu cuộc đời của tôi bằng những ân sủng hơn hai mươi năm Người chắt chiu cho tôi từng ngày. Những đứa con tôi trở lại đạo, cả dâu, cả rể, cả cháu, cứ từng gia đ́nh một, những đứa con của tôi. Tôi đă khóc nhiều lần, những giọt nước mắt của hạnh phúc, những giọt nước mắt trước t́nh yêu vô biên, Người không ngừng đổ rót trong cuộc đời của tôi. Cứ dường như mỗi lần khóc v́ hạnh phúc tôi lại được thêm người con trở lại nhận biết Thiên Chúa là Cha và sống thân t́nh với Thiên Chúa.

Phải có một lần nghiệm thấy Lời Chúa thực hiện trong cuộc đời của ta, ta sẽ thấy cả cuộc đời ta có dấu vết trong trang sách ấy. Ta có thể không tin, nhưng đó là sự thật của Lời Hằng Sống, Lời ấy trong âm thầm hay trong mọi hoàn cảnh vẫn là Lời sáng tạo, Lời làm nên những cái mới, Lời làm cho tái sinh.

 

Những tưởng giọt nước rỉ ra trên dọc đường gánh nước về là vô ích, Thiên Chúa đă cho mọc lên trên lối về ṛ rỉ ấy những bông hoa và những bông hoa ấy được trang điểm trong ngôi nhà của Thiên Chúa.

Những tưởng cuộc đời bất ṭan này, đầy những giọt nước mắt ăn năn, Người đă làm cho trở nên những giọt nước mắt của mừng vui bất tận.

Những tưởng cuộc đời ṛ rỉ này đang phung phá t́nh yêu của Thiên Chúa đổ tràn, nhưng Người đă dùng sự ṛ rỉ ấy cho trở nên vườn hoa tô thắm cho đời sống.

Những tưởng và thật không tưởng được t́nh yêu thương của Thiên Chúa mà chúng ta được gọi Thiên Chúa, Người là Cha hằng yêu thương chúng ta.

Như chiếc thùng rỉ Thiên Chúa đang dùng cuộc đời bất ṭan của ta, để thực thi quyền năng yêu thương của Người. Hăy mừng vui v́ có Thiên Chúa là Cha và từ trong mọi góc tối cuộc đời của ta, ta vẫn có thể rao truyền Lời Thiên Chúa. “hăy cầm lấy và đọc”

5.       Li băng bó cha lành nên cũng là Li hng làm khao khát.

 

“Khi Đức Giê-su gần đến Giê-ri-khô, có một người mù đang ngồi ăn xin ở vệ đường. Nghe thấy đám đông đi qua, anh ta hỏi xem có chuyện ǵ. Họ báo cho anh biết là Đức Giê-su Na-da-rét đang đi qua đó. Anh liền kêu lên rằng: "Lạy ông Giê-su, Con vua Đa-vít, xin dủ ḷng thương tôi! " Những người đi đầu quát nạt, bảo anh ta im đi; nhưng anh càng kêu lớn tiếng: "Lạy Con vua Đa-vít, xin dủ ḷng thương tôi! " Đức Giê-su dừng lại, truyền dẫn anh ta đến. Khi anh đă đến gần, Người hỏi: "Anh muốn tôi làm ǵ cho anh? " Anh ta đáp: "Lạy Ngài, xin cho tôi nh́n thấy được." Đức Giê-su nói: "Anh nh́n thấy đi! Ḷng tin của anh đă cứu chữa anh." Lập tức, anh ta nh́n thấy được và theo Người, vừa đi vừa tôn vinh Thiên Chúa. Thấy vậy, toàn dân cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa”[12].

 

Có bao giờ ta thử gọi thầm Giêsu như người mù thành Giêrikhô này chưa: Lời gọi này có một âm vang kỳ diệu mà các sách Tân Ước trong các việc Chúa chữa lành, các bệnh nhân đều gọi lên.

Hăy thử một lần xem sao?

 

Giêsu, Giêsu, Giêsu. Như một lời gọi thiết tha từ sâu thẳm của trái tim vang lên giữa ḷng cuộc sống. Giêsu, Giêsu, Giêsu. Như một lời gọi làm thao thức khôn nguôi làm lay động cơi ḷng. Giêsu, Giêsu, Giêsu. Như một gặp gỡ làm thay đổi, đảo lộn cuộc sống. Giêsu, Giêsu, Giêsu. Danh xưng làm ấm cơi ḷng.

Một thiền sư nọ trong đêm tĩnh lặng của đất trời, không trăng sao, không tiếng động tĩnh, đang ngồi thiền, bỗng chợt nghe âm vọng đâu đó một tiếng gọi âm thầm từ  nơi nào đó rất mời gọi, rất thiết tha.

Vị thiền sư  nghe trong ḷng dường như có tiếng sóng, cơn sóng ngầm tuôn chảy nơi niềm thao thức khôn nguôi. Không thể cưỡng lại lời mời gọi, không thể dập tắt tiếng âm vang. Vị thiền sư vội vàng ra khỏi chỗ ḿnh ngồi để ra đi. Ra đi t́m nơi tiếng vọng gọi phát xuất ra.

Vị thiền sư lên đường vào chốn rừng sâu, băng qua đèo, lội qua những con suối. Tiếng mời gọi mỗi lúc mỗi thiết tha. Chặng đường mỏi mệt vẫn chưa t́m thấy nơi tiếng vọng phát ra. Những đêm thâm u trong rừng vắng một ḿnh, vị thiền sư lại nghe tiếng th́ thầm ấy dường như réo gọi hơn.

Vị thiền sư quyết định ra khơi, đi t́m những hoang đảo xa vắng với niềm hy vọng, ở một ḥn đảo xa xôi nào đó sẽ bắt gặp được tiếng th́ thầm kia. Vị thiền sư ra đi và ra đi hết ḥn đảo này sang ḥn đảo khác, tiếng th́ thầm vẫn xa vẫn xa. Một chiều tối nọ, biển dậy lên những cơn sóng lớn, trong tiếng sóng của băo biển nổi lên, vị thiền sư chợt nghe thật gần thật gần tiếng th́ thầm hôm nào.

Bất kể mưa gió băo bùng, vị thiền sư lại tiếp tục ra khơi với niềm hy vọng thật gần kề. Niềm thao thức càng mỗi lúc càng dâng cao. Sự thao thức khiến vị thiền sư không thể măi ngồi chờ mà không làm ǵ. Giông tố của đêm ấy đă xô vỡ chiếc thuyền mỏng manh của vị thiền sư. Trong những lúc sợ hăi nhất, vị thiền sư mê man không c̣n biết ǵ đến chuyện ǵ xảy ra cho ḿnh.

Sáng hôm sau, một buổi sớm thật sớm, vị thiền sư nghe tiếng sóng nhỏ nhẹ đang ru vào những phiến đá. Chợt tỉnh mở mắt ra, vị thiền sư thấy lại khung cảnh của băi biển hôm nào từ đó ḿnh dong thuyền ra đi. Vẫn những khung cảnh cũ, vẫn ngôi nhà hôm nọ vị thiền sư ngồi thiền, như lạc vào trong một giấc mơ kinh hoàng nào đó mới trăi qua.

Chợt trong khung cảnh ấy, tiếng th́ thầm đâu đó lại vang lên thật gần thật gần. Gần đến nỗi vị thiền sư đang bắt đầu run lên niềm hạnh phúc. Cái hạnh phúc chưa từng lần nào trong bao năm tu tŕ của ông gặp được. Niềm hạnh phúc ấy nghe như thật lạ, thật mới, rất gần rất gần trong trái tim vị thiền sư. Tê bại đi bởi niềm hạnh phúc vị thiền sư phát giác ra tiếng th́ thầm kia phát xuất chẳng đâu xa, ngay trái tim ḿnh.

Chợt hiểu ra rằng chẳng đâu xa, tiếng mời gọi không ở trong khu rừng vắng, cũng không ở những nơi vùng đảo hoang xa xôi nào đó ở giữa biển khơi, cũng chẳng hệ tại ở những nơi âm u, tĩnh lặng. Ngay trong ḷng ḿnh, với sự cô tịch sau khi đă dứt bỏ hết những sự vật chung quanh bám rễ, với sự trơ trọi của mọi phương thế có thể bám víu, vị thiền sư đă nhận nơi phát xuất tiếng mời gọi từ tận đáy tim. Tiếng vọng mời thiết tha vang lên trong đời sống.

Lời của Chúa ngay nơi bàn làm việc của ta, Lời của Ngài ở trên ngay môi miệng ta, ở trong ḷng ta, thế nhưng ta vẫn lạc lơng đi t́m nơi không có Người, ta vẫn sống xa cách với Lời của Người.

Lời của Người là hơi thở sự sống trong ta. Từ khi Thiên Chúa hà hơi thở T́nh yêu của Người vào trong thân xác bụi đất, cũng là khi trái tim con người rung lên nhịp đập trái tim của Thiên Chúa.

Và cũng nhất là từ khi trái tim thật sự của Thiên Chúa bắt đầu rung lên nhịp đập trong trái tim của một con người trần thế có danh là Giêsu, là cũng từ khi ấy, hơn bao giờ hết, nhân loại đă và đang rung lên nhịp đập trái tim của Thiên Chúa trong trái tim nhân loại.

Tiếng th́ thầm của Thiên Chúa như tiếng thầm th́ hà hơi của Thánh Thần Thiên Chúa, làm cho nhân loại rung theo nhịp sống trong trái tim của Thiên Chúa. Cũng từ khi ấy, con người bước vào trong một lịch sử mới, muôn đời mới nhờ trái tim của Thiên Chúa đă nhịp đập trong trái tim của Người mang danh là Giêsu.

Giêsu, danh xưng mang lời gọi thầm th́ thao thức khôn nguôi không ngừng làm xao động, run lên bao tâm hồn, bao trái tim của rất nhiều người từ thế hệ này sang thế hệ khác.  

Thiên Chúa măi măi là sự bất ngờ đối với những con người gặp gỡ. Cái bất ngờ của vị thiền sư bắt gặp sau những năm tháng dài chiêm niệm, sau những hành tŕnh ngược xuôi đây đó, dựa vào hết phương pháp này đến phương pháp khác. Sau cùng gặp được lời gọi ấy vang lên từ  tận sâu trái tim của ḿnh.

Sự bất ngờ của Thiên Chúa măi măi là niềm say mê của những hành tŕnh t́m kiếm, như lời mời gọi dứt bỏ măi khôn nguôi, từ vực sâu thẳm tâm hồn mời gọi ra đi, lên đường t́m kiếm, như thể ở tận cùng của mọi khả năng, của mọi hy vọng, Lời của Thiên Chúa xuất hiện bất ngờ làm ngỡ ngàng, làm đảo lộn cuộc sống. Ai đă từng gặp Người, là đă từng bất ngờ khám phá ra Thiên Chúa, Người là Đấng khác.

Người là Đấng khác từ sau sự Phục Sinh của Người trong con người Giêsu. Danh xưng ấy rền vang, vang măi không dứt Lời mời gọi của Thiên Chúa. Trong bao nhiêu giây phút ngỡ ngàng, trong bao Lời gọi từ thẳm sâu, danh xưng Giêsu, xuất hiện như ngày mới bừng sáng. Cái bừng sáng không thể không làm lay động cuộc đời, lay động bao nhiêu nghĩ suy, lay động từ chốn sâu thẳm của ḷng nhân thế.

Giêsu, Giêsu, Giêsu, Người là vẻ đẹp  hoàn mỹ của đất và của Trời, Danh Người là vẻ đẹp cho cuộc đời, sau tất cả những ǵ kinh nghiệm trải qua. Danh Người là hơi thở của Thần Linh đă phà hơi vào cuộc sống cái mới không ngừng phát triển. Giêsu, được gọi Danh Người bằng tất cả cuộc sống, bằng tất cả trái tim, bằng tất cả những khả năng của nhân loại, đă làm cho trái tim rung lên nhịp đập của giai điệu hạnh phúc viên miễn.

Giêsu, danh xưng của Người đă làm cho đôi chân này của nhân loại, không ngừng bước đi tiến về phía trước, dứt mọi hành trang cồng kềnh, vượt qua bao ngàn sóng gió, đi sâu vào trong trái tim và bất ngờ gặp gỡ ở tận sâu sự sâu thẳm của tâm hồn.

Ra đi và trở về để thấy rằng đă một lần Thiên Chúa đă phà hơi Thở Thần Linh vào trong trần thế là đă một lần Thiên Chúa trao ban cho nhân loại tất cả trái tim của Người. Người là Thiên Chúa hằng sống, hằng hiển trị trong trái tim nhân loại bằng một nhịp đập âm thầm, sâu thẳm và kín đáo.

Giêsu, Giêsu, Giêsu. Danh xưng vượt trên mọi Danh xưng mà con người có thể gọi trong niềm hân hoan và thao thức. Giêsu, Giêsu, Giêsu. Danh xưng ấy được vang lên một cách thân thiện, tŕu mến, đẫm ướt trên từng đôi môi ngỏ lời của nhân loại dâng lên Thiên Chúa.

Giêsu, Giêsu, Giêsu. Đă một lần được gọi Danh Người trong cuộc sống, là đă một lần say mê lên đường, để mong gặp gỡ cho bằng được ở trong mọi hoàn cảnh cuộc sống. Không có ǵ có thể cản bước, không thể có ǵ có thể làm nguôi ḷng, nếu chưa một lần được gọi : Giêsu, Giêsu, Giêsu.

Gặp gỡ và gọi Danh Xưng Giêsu, Giêsu, Giêsu. Không thể không trào dâng từ tận đáy ḷng một thao thức mới, vững mạnh lên đường và tiếp tục khám phá ra Danh của Người trong những ǵ chưa thể ngờ tới. Giêsu, Giêsu, Giêsu, niềm thao thức khôn nguôi.

Trong Đức Giêsu và trong hơi thở của Thánh Thần, nhân loại vẫn và đang không ngừng đổi mới, trở thành một nhân loại được hiến thánh dâng lên Chúa Cha, những ǵ tinh tuyền nhất, những ǵ ưu việt nhất của trần gian.

Giêsu, xin cho con một lần và nhiều lần được gọi danh của Người từ thẳm sâu của trái tim, để con có thể được gọi Người là anh, là bạn, là Chúa của con.   

Giêsu, Giêsu, xin cho con được gọi Danh của Người trong mọi ngày của cuộc sống để cuộc đời này của con măi măi là những Chúa Nhật hồng của T́nh Yêu.

6.       Li mang b́nh an.

 

B́nh an cho anh em là lời chào chúc thường xuyên của Đức Giêsu, sự b́nh an Đức Giêsu ban tặng là sự b́nh an nào.

“Salôm”  mang một ư nghĩa cho sự  nguyên vẹn, đầy đủ (Gb 9,4) . B́nh an không là một thỏa ước tạo nên cuộc sống yên ổn, cũng không mang ư nghĩa “thời b́nh” đối lại với “thời chiến”,  b́nh an theo Thánh Kinh để chỉ sự an lạc của cuộc sống thường ngày, con người sống ḥa hợp với thiên nhiên, ḥa hợp với nhau, với chính ḿnh và với Thiên Chúa.

An b́nh là lời chào hỏi cũng như là lời chào chúc cho nhau hạnh phúc, hay là những lời dùng để nói lời chia tay. Trong cuộc sống của những người yêu nhau, đó là điều con người mong ước cho nhau, như lần gặp gỡ, như lần xa nhau, như lần chia tay nhau. Những lời cầu chúc b́nh an như muốn gửi tất cả những ǵ tốt đẹp nhất đến cho nhau.

B́nh an theo các cách diễn tả đó trái lại với hận thù, ghen ghét. Không có lời chào chúc b́nh an đối  với những người độc ác. Người độc ác chỉ muốn cho kẻ thù của ḿnh chết sớm v́ không muốn đội trời chung, người độc ác chỉ muốn nguyền rủa cho kẻ thù của ḿnh bị đụng xe, bị tai nạn trầm trọng, chứ không muốn cho người ấy được b́nh an. Khi thương nhau người ta ước muốn cả ngàn sự lành cho nhau, khi ghét nhau người ta cũng muốn cả ngàn sự dữ cho nhau. Như thế, b́nh an có nghĩa trái ngược với hận thù, ghen ghét, độc ác. B́nh an là hoa trái của những người công chính, của những người sống trong yêu thương, của những người thiết tha sống v́ người khác.

B́nh an từ nơi Thiên Chúa là sự b́nh an đích thực, Người là Thiên Chúa của b́nh an. Con người cầu nguyện sự b́nh an từ nơi Thiên Chúa ban tặng, cầu xin sự chúc phúc của Thiên Chúa và Thiên Chúa đă chúc phúc cho con người ngay từ thưở tạo dựng. Sự b́nh an đánh mất bởi tội lỗi, bởi những mối tương quan bắt đầu sứt mẻ. Con người đổ lỗi cho nhau, Adam đổ lỗi cho Eva, mối t́nh của họ bị đứt đọan bởi mất sự b́nh an, họ trốn tránh Thiên Chúa. Con người đổ lỗi cho thọ tạo, “bởi con rắn” , con người làm sứt mẻ mối tương quan giữa con người và thiên nhiên. Con người làm găy tương quan giữa con người và Thiên Chúa bởi đă đi ngược lại ư muốn yêu thương của Người. Sự đổ găy đó đă được Thiên Chúa tái lập nhờ Đức Giêsu và mời gọi con người ư thức hơn trong việc cộng tác xây dựng b́nh an. 

Con người không chỉ dừng lại việc cầu nguyện xin sự b́nh an của Thiên Chúa, nhưng c̣n cần cộng tác với Thiên Chúa để xây dựng b́nh an. Đó là hạnh phúc của con người được mời cộng tác, bởi Thiên Chúa tôn trọng tự do của con người và tôn trọng những khả năng mà chính Thiên Chúa ban cho họ.

Một vị vua treo giải thưởng cho nghệ sĩ nào vẽ được một bức tranh đẹp nhất về sự b́nh yên. Nhiều họa sĩ đă cố công. Nhà vua ngắm tất cả các bức tranh nhưng chỉ thích có hai bức và ông phải chọn lấy một.

Một bức tranh vẽ hồ nước yên ả. Mặt hồ là tấm gương tuyệt mỹ v́ có những ngọn núi cao chót vót bao quanh. Bên trên là bầu trời xanh với những đám mây trắng mịn màng. Tất cả những ai ngắm bức tranh này đều cho rằng đây là một bức tranh b́nh yên thật hoàn hảo.

Bức tranh kia cũng có những ngọn núi, nhưng những ngọn núi này trần trụi và lởm chởm đá. Ơ bên trên là bầu trời giận dữ đổ mưa như trút kèm theo sấm chớp. Đổ xuống bên vách núi là ḍng thác nổi bọt trắng xóa. Bức tranh này trông thật chẳng b́nh yên chút nào.

Nhưng khi nhà vua ngắm nh́n, ông thấy đằng sau ḍng thác là một bụi cây nhỏ mọc lên từ khe nứt của một tảng đá. Trong bụi cây, một con chim mẹ đang xây tổ. Ơ đó, giữa ḍng thác trút xuống một cách giận dữ, con chim mẹ đang an nhiên đậu trên tổ của ḿnh… B́nh yên thật sự.

“Ta chấm bức tranh này ! – Nhà vua công bố – Sự b́nh yên không có nghĩa là một nơi không có tiếng ồn ào, không khó khăn, không cực nhọc. B́nh yên có nghĩa ngay chính khi đang ở trong phong ba băo táp ta vẫn cảm thấy sự yên tĩnh trong trái tim. Đó mới chính là ư nghĩa thật sự của sự b́nh yên giữa cuộc sống đang cần nỗ lực giành lấy trong cuộc sống này.

Không có sự b́nh yên thật sự khi con người không nỗ lực dấn thân để xây dựng, xây dựng từ nơi chính ḿnh bằng đời sống công chính, yêu thương với đức ái đ̣i hỏi. Không có sự b́nh an  màkhông có đấu tranh cho sự thiện, không có b́nh an cho những người ngồi chờ sự an nhàn, sự b́nh an mà Đức Giêsu ban tặng là sự b́nh an cho những con người chấp nhận thử thách để vượt qua thử thách bằng sự b́nh an của Đức Giêsu.

Sự b́nh an không có nghĩa là thỏa hiệp với tội lỗi, để lương tâm thành chai lỳ, sự b́nh an của Đức Giêsu ban tặng là đích thực, là hoa trái của đời sống trong sạch, thắng vượt những cám dỗ, vượt qua những nguy cơ của tôi lỗi.

Sự b́nh an của Đức Giêsu muốn nói với thời đại của chúng ta c̣n là sự b́nh an cần tạo lập sự quân b́nh cho môi sinh trên trái đất, con người đang tàn phá thiên nhiên bằng nhiều cách, nhiều thủ đọan, để thu về cho ḿnh những mối lợi. Con người đang chống lại thiên nhiên, phá đổ ngay cả chỗ con người đặt chân, vậy th́ sự b́nh an làm sao có được khi con người cứ làm những chuyện đại lọai như thế.

 “ Vậy hăy đứng vững: lưng thắt đai là chân lư, ḿnh mặc áo giáp là sự công chính, chân đi giày là ḷng hăng say loan báo tin mừng b́nh an; hăy luôn cầm khiên mộc là đức tin, nhờ đó anh em sẽ có thể dập tắt mọi tên lửa của ác thần. Sau cùng, hăy đội mũ chiến là ơn cứu độ và cầm gươm của Thần Khí ban cho, tức là Lời Thiên Chúa”[13].

 

 



[1] Gr 15, 10; 16.

[2] Tv 18, 1 -7.

[3] Mt 10, 26.

[4] Mt 10, 28.

[5] Ga 6, 20.

[6] bản kỷ, quyển 11.

[7] bản kỷ, quyển 11.

[8] Lc 6, 26.

[9] Lc 11, 39 -54.

[10] Dt4, 12 -13.

[11] Gr 20, 8.

[12] Mc 10, 36 – 43.

[13] Ep 6, 14 -17.