Bí tích Hoà Giải – Ḷng thương xót.
"Anh em nghĩ sao? Ai có một trăm con chiên
mà có một con đi lạc, lại không để chín
mươi chín con kia trên núi mà đi t́m con chiên lạc sao?13
Và nếu may mà t́m được, th́ Thầy bảo
thật anh em, người ấy vui mừng v́ con chiên
đó, hơn là v́ chín mươi chín con không bị
lạc.14 Cũng vậy, Cha của anh em, Đấng
ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những
kẻ bé mọn này phải hư mất.”[1]
1.
Cây
mầm trên Đất Việt.
Sự tích “Âu Cơ” vọng về một quá khứ của cộng đồng Bách Việt chạy dài từ ven biển bán đảo Sơn Đông, qua ven biển vùng hồ Động Đ́nh vốn xưa đă là trung tâm của họ Viêm đế Thần nông, gốc họ Hồng Bàng, qua vịnh Bắc Bộ, đến cửa Hội Thống, chỗ rẽ vào Ngàn Hống, nơi Kinh Dương Vương xây dựng Kinh thành. H́nh tượng bọc Âu Cơ là h́nh tượng quả bầu Bách Việt, để truyền lại cho con cháu lời răn bảo:
“Bầu ơi thương lấy bí cùng.
Tuy rằng khác giống mà chung một giàn”
Lời nhắn nhủ ấy ăn sâu trong tâm
thức người Việt, như vườn ươm
hiếu hoà mà hôm nay hướng về “Bí tích hoà giải” .
2.
Cây
mầm hiếu hoà.
Cây mầm hiếu hoà trên đất Việt sinh trưởng trong những hoàn cảnh đặc biệt, mang lại những hoa trái nhất định :
“Con một mẹ, hoa một chùm,
Thương nhau nên phải bọc đùm lẫn nhau.”
Câu ca dao ấy, luôn luôn nhắc nhủ con cháu sau này, có lớn lên, có giàu, có nghèo, có đau, có phúc lấy nghĩa của t́nh thương mà đối xử với nhau. Ai cũng lớn lên trên cùng một đất mẹ, uống chung một bầu sữa, nói một tiếng mẹ và sống trong một t́nh mẹ chở che. Việc yêu thương nhau từ gốc một mẹ ấy mà sống thuận hoà với nhau.
“Khôn ngoan đối đáp người ngoài.
Gà chung một mẹ chớ hoài đá nhau”
T́nh yêu thương kết nên mối hiếu
hoà. Trong câu thường nói của người Việt
Trọng tính hài hoà, để mưu cầu lấy phúc, người Việt ư thức rằng “không ai là một ốc đảo”, sống là sống chung, sống với, gắn liền cuộc sống của ḿnh với người khác. Sự gắn bó này mạnh cho đến nỗi:”bán anh em xa, mua láng giềng gần”. Làng nước là cụm từ quen thuộc nữa trên môi miệng người Việt. Từ phạm vi cá nhân cũng như phạm vi xă hội; từ việc cá nhân cũng như việc của cộng đồng cũng luôn sử dụng từ ngữ này. Nói chung Nước Việt ở trong vùng văn hoá nông nghiệp, nền văn hoá ấy được xây dựng trên nền tảng “Làng”, lấy văn hiến làng làm cơ sở kiến quốc. Từ ngữ làng gắn liền với nước là như thế. Khi hoạn nạn người ta kêu: “làng nước ơi”, khi nói ra cho mọi người, người ta cũng nói: “Tŕnh làng nước”.
“xóm giềng là nghĩa chí thân,
hoạn nạn tương cứu, phú bần tương tri”
Sống được với nhau hẳn đó cũng là một nền “nhân bản” đúng nghĩa Kitô giáo, theo Lời Chúa Giêsu dạy: “Anh em hăy yêu thương nhau, như Thầy đă yêu thương anh em” .
Trong khung cảnh làng nước xưa ấy, không có cảnh thầy thợ, chủ tớ, bóc lột, bất công.
“cơm ăn chẳng hết th́ treo,
việc làm chẳng hết th́ kêu láng giềng”
Người nhà quê có thói quen làm đổi công cho nhau, người nhà này sang làm cho nhà kia, đến bữa th́ ăn chung, nhà có th́ đăi đằng thêm món thịt, nhà chẳng có th́ cơm canh cá cũng xong. Hết việc nhà nọ th́ làm cho nhà ḿnh hoặc nhà nào khác. Giả như trong nhà có việc tang hay cưới, làng xóm kéo đến, mỗi người một tay, ai biết ǵ th́ phụ nấy, chẳng ai tính công, ai cũng coi việc nhà khác như việc nhà của ḿnh. Tinh thần làng xóm hỗ tương đó, nào có mấy khi tranh chấp, căi vă. Quê hương cũng thanh b́nh từ những cái t́nh ấy, nên mỗi quê cũng có những “đất lề quê thói” nào đó, nhưng tựu trung nét đặc biệt nhất mà có thể thấy được là tinh thần hiếu hoà: “lấy chín bỏ làm mười” để rồi tự răn ḿnh:
“Ở cho phải phải, phân phân.
Cây đa cậy thần, thần cậy cây đa”.
Cho nên cụm từ quen trên môi miệng “người ta” là kết quả trong cuộc sống giao hảo nhiều lắm. Từ khi ấy người ta biết sống và người ta cũng biết chết cho có ư nghĩa:
“Giúp nhau là nợ đồng lân.
Trời đất xoay vần, kẻ trước, người sau.
Chưa ai ba họ cùng giàu.
Chưa ai nghèo khó đến đâu ba đời.
Sống trên đời cùng nhau cấy cày,
Thác buông tay giàu mấy cũng không !
Hay chi độc dạ tham ḷng.
Sao bằng để một tiếng “Trong” ở đời”.
Từ những quan niệm b́nh dân như thế, người Việt cũng nhắm tới việc đào luyện bản thân, trong cách ăn ở, lối cư xử, đến phẩm giá, đến nhân cách, chứ không để ư đến việc giàu nghèo hơn thua. Cái quan trọng trong đời sống cộng đoàn là có sống được với nhau không? Nếu không sống được với nhau người ta chỉ cón cách bỏ làng lên rừng mà sống một ḿnh. Đời sống nông thôn có tính cách tập thể rất cao đưa tới sự Hiệp Nhất, hiệp nhất trong cùng một huyết thống, hiệp nhất trong cùng một xóm ngơ, đến hiệp nhất trong cùng một làng một nước. Chúng ta thấy tục giao hiếu giữa các làng xă là bằng chứng.
Theo tác giả Toan Ánh: “làng xóm Việt
Nếu có điều ǵ mích ḷng nhau, người Việt xưa dùng cách nói khéo hay dùng những người có tài giao hảo làm trung gian để hoà giải. Không ai muốn nuôi giận măi, bởi v́ “Giận quá mất khôn”, hơn nữa v́ một ḍng máu con Việt : “Máu chảy đên đâu, ruồi bâu đến đấy” có ích ǵ khi người ta giận nhau.
Tinh thần làng nước xưa ấy tiếp nhận Tin Mừng Chúa Giêsu qua các vị Thừa sai tiên khởi, đă làm ngạc nhiên đối với nhiều người, đến nỗi người ta không biết gọi là đạo ǵ, nên gọi theo những ǵ người ta thấy, đó là “đạo những người thương nhau”. Trong tâm khảm người Việt đă có một mảnh đất t́nh thương màu mỡ, như mảnh đất sẵn sàng đón nhận và sinh hoa kết trái hạt giống Tin Mừng đón nhận.
Tính cách làng xóm xưa ấy, đẹp như h́nh ảnh của cộng đoàn tín hữu tiên khởi chứ có kém ǵ: “Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau” (Cv 3, 44). Cái giàu cái nghèo nếu biết đem chia sẻ cho nhau như trong t́nh làng nước th́ xă hội chẳng công b́nh sao? Tự trong nền văn hoá dân tộc đă có một tiền Phúc âm, nếu lấy những nét đẹp trong truyền thống làm nổi bật tính Tin Mừng, th́ thấy rằng Tin Mừng đă trở thành cuộc sống, ăn rễ sâu trong nền văn hoá rồi. Đức Hồng y Ratzinger nhận định rằng: “Đức Tin tự nó là văn hoá. Không có đức tin trần trụi, cũng chẳng có văn hoá thuần tuư”.
Tinh thần hiếu hoà của người Việt là một điểm son trong nền văn hoá, ước ǵ truyền thống ấy ngày càng bén rễ sâu trong ḷng dân tộc, nhất là nơi những người Kitô hữu, những người lănh nhận sứ vụ xây dựng hoà b́nh trên trái đất.
3.
Kết
cỏ ngậm vành.
Tính cách hiếu hoà của tiên tri Giêrêmia, một
cách nào đó như phác hoạ lại một phần tâm
hồn người Việt. Vốn là con người
hiền hoà nhưng lại được đặt trong
một địa thế nhỏ bé giáp với quốc gia
rộng lớn để rồi cứ bị ăn
hiếp. Giêrêmia sinh ra trong một gia đ́nh phụ cận
Giêrusalem vào lối năm 615 BC. Được Thiên Chúa kêu
gọi lúc rất c̣n trẻ, năm 626 BC, ông đă sống
trong những thời kỳ bi
thảm: Thời vương quốc Giuđa từ từ
bị sụp đổ và bị tiêu diệt. Thời
cải cách tôn giáo của Giôsia, đă khơi lên những hy
vọng, và niềm hy vọng ấy bị tiêu tan ngay sau
đó với cái chết của nhà Vua ở Mơ- ghit-
đô. Chứng kiến sự sụp đổ của
Ninivê, sự bành trướng của đế quốc
Canđê. Nh́n thấy lịch sử dân ḿnh chịu 2
cảnh lưu đày vào năm 597 và năm 587 BC. Chính ông
cũng bị bắt bớ, giam cầm, nhiều lần
suưt chết. Bản thân ông là một con người hiếu
hoà, sinh ra để yêu thương, mang trong tâm hồn
đa cảm, nhưng ông lại được “sai đi
để nhổ, để lật để huỷ,
để phá”. Ong ước ao sự b́nh yên, song ông luôn luôn
phải đấu tranh với người của ḿnh,
với nhà vua, với ngôn sứ , để khiến
người ta nói ông là “con người gây gỗ bất hoà
đối với cả xứ”
(Gr 15, 10) . Tâm hồn đa cảm của ông dễ
bị tổn thương và nhiều lần ông cũng kêu
xin Thiên Chúa: “Tại sao đau khổ của tôi cứ liên
tục?” (Gr 15, 18) và có lúc
cũng trách “vô phúc cho cái ngày mà tôi sinh ra” (Gr 15, 18).
Lịch sử Việt
Chiến tranh, ngàn năm sống dưới ách đô hộ Trung Hoa, trăm năm là miếng mồi gianh xé của Châu Âu. Khi b́nh an thiếu vắng ḷng người cũng bất an, những tỵ hiềm xâu xé, những cái xấu của ḷng ghen ghét chiếm hữu len lỏi vào tâm hồn, những tương quan bị rạn nứt. Do đó, không thể không có lúc phải trở về sống tinh thần hoà giải, sám hối để chất sống trả lại sự tinh tuyền của nét hài hoà, kiếm t́m sự b́nh an.
Kết cỏ ngậm vành là câu thành ngữ Việt mang sắc thái của thành ngữ điển tích Trung Hoa. Kết cỏ ngậm vành dịch từ tiếng Hán: “Kết thảo hàm hoàn”. Thảo là cỏ, kết thảo nghĩa là kết cỏ. Hoàn là vành cũng nghĩ là ṿng, hoàn hàm có nghĩa ngậm vành.
Kết thảo hoàn hàm được lấy ra từ hai điển tích khác nhau. Kết thảo lấy trong Tả truyện, hoàn hàm lấy trong truyện Dương Thực thời Hán.
Sách Tả truyện chép: Nguỵ Thù có con trai là
Nguỵ Khoả, lúc sắp hấp hối ông dặn con, khi
cha chết phải chôn theo cả người vợ lẽ
hiền dịu của cha nữa. Khoả nghe nhưng cho
đấy là lời mê loạn của người trong
cơn bệnh, nên không làm theo lời dặn đó. Chàng cho
người vợ lẽ của cha về nhà đi lấy
chồng. về sau, khi Nguỵ Khoả được phong
tướng, đem quân đi đánh nhau với Đỗ
Hồi. Đang giữa trận ác chiến, bỗng nhiên
Đỗ Hồi ngă ngựa và Nguỵ Khảo bắt
sống. Đêm ấy, Khoả nằm mộng thấy có
ông già râu tóc bạc phơ đến tạ và nói: Lăo đây
là thân sinh của người thiếp đă
được ông cứu sống. Cám ơn ấy, lăo
đă kết cỏ làm vướng chân ngựa của
Đỗ Hồi để ông bắt sống. Đó là chút
công đức, xin báo đáp ông.
Hàm hoàn có tích truyện: Truyện rằng,
đời Nhà Hán bên Trung Quốc có người con trai tên là
Dương Thực, năm lên 9 tuổi, khi dạo chơi
ở sườn núi Bắc Hoa Âm, Dương Thực
bắt được một con chim bị thương
nằm sơng soài bên vệ đường, Dương
Thực mang con chim về nhà ḿnh nuôi, cho ăn uống và
chăm sóc rất cẩn thận. Đến khi chim
khoẻ, vết thương lành lạnh, có thể vỗ
cánh bay đi kiếm ăn được, Dương
Thực mới thả chim ra. Ít đêm sau, một tối
trời sao sáng, Dương Thực mộng thấy con chim
về báo ơn, tự xưng là sứ giả của Tây
Vương Mẫu, mỏ cắp một ṿng bạc
biếu Dương Thực và nói rằng, mai sau con cháu
Dương Thực sẽ được nâng niu, quư giá
như ṿng bạc, làm ăn thịnh đạt.
Kết cỏ ngậm vành là hành vi tạ ơn
đă cứu thoát khỏi lúc tai ương, đau khổ.
Là thân con người, người Việt ư thức ḿnh là
một dân tộc nhỏ nhoi, biết được
sự bèo bọt của ḿnh, những lạc điệu vô
lối của ḿnh, nên có chút ǵ có thể đáp lại
được th́ cũng cố mà làm để báo ân.
Nguyễn Du viết:
“rằng tôi bèo bọt chút thân
Lạc đàn mang lấy nợ nần yến
anh
Dám nhờ cốt tử nhục sinh
C̣n nhiều kết cỏ ngậm vành về
sau.
Theo ư của Nguyễn Du, kết cỏ ngậm
vành là lời đoan hứa sau khi được trời
hoặc người thương giúp trong khi gặp
khốn khó. Như thế, trong một t́nh tự dân tộc
vốn dĩ sống hài hoà nhưng luôn gặp bất
trắc, những khi bất trắc chẳng biết
cậy dựa vào ai chỉ biết van vái cầu trời,
thương giúp.
Có nơi người ta thay v́ kết cỏ,
người ta hạ ḿnh thấp hơn trong hành vi cắn
cỏ.
Tại một số vùng để tỏ ḷng
thảm thiết, khốn khổ vô hạn, người ta
gục đầu sát đất, miệng ngậm cỏ
van vái trời hoặc có thể trét đất, bùn, tro,
trấu, lên đầu lên cổ ḿnh. Hành vi “cắn cỏ”
nói lên sự khốn khổ của họ, tách ra khỏi
ṿng nhân sinh, sống như loài giun loài dế, hàng súc vật
không hơn không kém. Đó là dấu chỉ đau
đớn muộn phiền, ngoài ra việc cắn cỏ
c̣n nói lên việc ăn chay, hăm ḿnh, đánh tội, có
thể nói đó là hành vi khiêm tốn hạ ḿnh trước
Đấng siêu việt. Trong tâm thức người
Việt hành vi ăn chay, đánh tội là một việc
đơn thường. Do tính chất của người
Việt là nghề nông, nên tính cách Việt cũng mang tính
nhẹ nhàng hơn, có thể lấy ví dụ như: T́nh
người cha đối với con, nó là một thứ
t́nh b́nh thản như
đồng lúa êm ả. Nó không sôi sục, cháy bỏng
như t́nh con chim Pélican của Alfred de Vingy, khi con đói, cha
t́m mồi mỏi cánh không ra, trở về rỗng không, v́
thương con, cha tự mổ bụng để con rút thịt
ḿnh ra ăn. Cái t́nh cha người Việt nó tự tại
như tre già, để mặc sức người ta
chặt ḿnh để cho măng mọc lên. T́nh cha như
muốn thể hiện, mà lại không biết cách nào
tỏ ra hiển hiện. Thầm lặng mà sâu, nhợt
nhạt mà lại bền bỉ, đằm thắm mà
nồng nàn. Việc đánh tội, phạt xác, lấy roi
tự đánh ḿnh, nó mạnh mẽ như cách thể hiện của con chim
Pélican, tự mổ bụng ḿnh. C̣n với người
Việt việc đánh tội ấy giống như cái
t́nh cha người Việt nó tự tại như tre già,
để mặc sức người ta chặt ḿnh
để cho măng mọc lên. Khi đem việc dùng roi đánh
ḿnh phạt xác áp dụng vào văn hoá Việt, thấy có
vẻ ghê rợn quá sức, có thể làm cho nhiều
người lương, thấy có vẻ kỳ quặc,
dị nghị.
4.
Ḷng
thương xót
Gặp được ḷng thương xót
của Thiên Chúa.
Ḷng thương xót thật bất ngờ, bất ngờ theo cách thức bỏ lại 99 con chiên để lên đường t́m 1 con chiên lạc. Ḷng thương xót không là cách tính của người buôn bán kiếm lời, bởi người buôn bán có thể hy sinh 1 đồng để giữ lại chắc chắn cho 99 đồng c̣n lại, càng không phải là cách thức của người quản lư, hy sinh 1 để thâu lăi thêm gấp mười. Ḷng thương xót của Thiên Chúa không phải là bài tính toán lời lỗ mà là cho đi đến không cùng. Không ai như Thiên Chúa, Thiên Chúa quá yêu thương con người, cho dù đó là một người tội lỗi chống lại Người đi chăng nữa. Thiên Chúa là Đấng t́m kiếm, là Đấng chăn chiên nhân hậu cách thực sự.
Thiên Chúa, Người đă làm lay động bao nhiêu cách tính toán của con người. Có người đă thổ lộ như thế sau chặng đường đă gặp, đă thấy : “Tôi đă từng coi thường những người nghiện, v́ không thể chấp nhận được những con người đem cuộc đời ḿnh mà vất đi như thế”. B́nh thường theo cách của con người là vậy, làm sao có thể chấp nhận được cuộc đời của ḿnh chỉ phục vụ cho những con người dại dột vất đời ḿnh đi như thế. Lo cho những người b́nh thường thôi cũng đă đủ thấm, c̣n phải lo cho cả những kẻ đốt đời ḿnh th́ quá là “người của quần chúng”, lo “những chuyện bao đồng”. Thiên Chúa lại đi theo cách ngược với người đời, bỏ lại 99 con chiên lành đi t́m 1 con chiên lạc. Khó có thể chấp nhận được, vậy mà cũng có bao nhiêu người lại theo cách thức ấy của Thiên Chúa. Chỉ cần cứu được một cuộc đời mà có khi phải mất đến bao nhiêu là đau khổ và nước mắt. Nước mắt của bà mẹ già, của người cha, của những người thân, giọt mồ hôi của bao tấm ḷng lương y, của những con người có tấm ḷng, lo âu, thức đêm trằn trọc với những cơn dằn vặt của con nghiện hoặc chích quá liều.
Nếu thử hỏi có điều ǵ khiến họ có thể thực hiện được điều ấy, th́ phải chăng chỉ có thể lư giải được bằng chữ t́nh yêu. T́nh yêu cho đến cùng là t́nh yêu thể hiện cách ngược đời, tha thứ tất cả, đón nhận tất cả. Có đón nhận tất cả nên mới có cách thức ngược đời, hy sinh sức khoẻ, trí lực của ḿnh để cứu lấy một con người hư hỏng. Có bao người đă đánh đổi cả cuộc đời ḿnh để cứu lấy những con người lạc mất.
Một sự hy sinh hao tốn rất lớn tiềm năng của nhân loại, thay v́ những hy sinh ấy để thăng tiến con người tốt hơn nhưng lại chỉ để cứu lấy những cuộc đời b́nh thường đánh mất. Đó là những tiếc rẻ của những bài tính thế gian. Tiếc cho một thời trai trẻ, tiếc cho một phận người đánh mất và tiếc cho cuộc đời bị đánh đổi bởi giả trá.
Khó mà lư giải được cách thức thực hiện của t́nh yêu, t́nh yêu là cứu lấy, cho nên đ̣i nhiều nỗ lực hơn, kiên nhẫn hơn, can trường hơn và có khi đ̣i cả chính mạng sống. Thông thường, để thăng tiến cho những điều tốt lành đă là khó, cách thức của t́nh yêu chữa lành lại càng khó hơn. Khó hơn bởi v́ sự xấu không bao giờ đơn độc, khó hơn v́ không bao giờ được phép tiêu diệt những con người xấu. Những người lo cho việc cai nghiện rất kinh nghiệm điều này, để cứu lấy một người nghiện c̣n khó hơn gấp ngàn lần chữa một căn bệnh. Hiểu được điều này vén mở cho thấy một điều khác hơn. Đó là hiểu được phần nào T́nh yêu được gọi là vô biên của Thiên Chúa. Khi Thiên Chúa sáng tạo vạn vật Thiên Chúa chỉ dùng bằng Lời, khi Thiên Chúa sáng tạo nên con người, Thiên Chúa đă sáng tạo bằng hành động, bằng nghĩ suy, nhưng để cứu lấy con người Thiên Chúa lại trao ban chính Con Duy Nhất của Người cho nhân loại. Trao Người Con Duy Nhất cho nhân loại, để nhân nhân loại đóng đinh Người Con ấy vào Thập Giá, Đấng vô tội chết như một người tử tội.
Thật khó mà hiểu được nếu không có sống t́nh yêu, không sống t́nh yêu người ta sẽ loại trừ những thành phần hư hỏng để trong sạch hoá xă hội nhân sinh, không có t́nh yêu, người ta sẽ khai thác triệt để những con nghiện để kiếm lời cho tài sản của họ. Không có t́nh yêu con người sẽ chống lại con người, kết quả của nó là thảm kịch của khủng bố, thảm kịch của bóc lột, của gian tham. Nói tiếng nói của t́nh yêu là nói ngược lại với toan tính lời lỗ của trần thế. Sống t́nh yêu là sống trái với quy luật của thương trường, của lợi lộc, của địa vị, quyền bính.
Được mời gọi sống t́nh yêu
nên người Kitô hữu cũng được mời
gọi lên đường t́m kiếm con chiên lạc.
Bỏ lại những ích kỷ sau lưng, bỏ lại
những quyền lợi,
địa vị xứng đáng có, bỏ lại
những ǵ đang có cách chính đáng để đi t́m con
chiên lạc đă mất. Bỏ ích kỷ đă là
điều khó, c̣n đ̣i bỏ cả những ǵ chính
đáng ḿnh đang được hưởng lại càng
khó hơn. Cái khó hơn ấy đă có nhiều người
lại thực hiện được, chính v́ vậy mà làm
lay động nhiều nghĩ suy của người khác.
Có thể tin không một người đă cai
nghiện trở về gia đ́nh của ḿnh, lại
trở thành một nhân tố tích cực xây dựng giờ
kinh tối cho toàn thể gia đ́nh. Nên mừng hay nên
buồn cho thành viên này, có lẽ cả hai. Cả hai, v́
trước kia em là người làm phiền ḷng cho bao nhiêu
người khác, hôm nay lại là mừng vui bất tận,
bởi v́ bao người đă t́m lại được
con người của chính em đă đánh mất.
Có thể tin không, một con người mang mầm bệnh Aid lại trở thành chứng nhân cho T́nh Yêu kiếm t́m mà anh được t́m về. Con chiên lạc trở thành chứng nhân cho 99 con chiên c̣n lại. Bài toán quá chênh vênh và khó lư giải cho toàn bộ đáp số.
Sự hoạt động của những con người dấn thân làm lay động những cuộc đời đang sống chính đáng, hẳn là con số 99 c̣n lại cũng nghĩ suy, cũng lay động, thay đổi. Những giá trị về ḷng nhân ái đang được đào sâu, nhờ những con người đang dấn thân cho T́nh Yêu và cuộc đời trở nên những giá trị.
Có thể tin v́ phép lạ của t́nh yêu vẫn xảy ra, chính t́nh yêu cứu vớt cuộc đời, chính t́nh yêu đưa con người vào sự sống và t́nh yêu đưa con người sống là người hơn. Nếu tôi có t́nh yêu đủ lớn, tôi cũng có thể sống vui hơn và sống có ư nghĩa hơn cho người khác.
Bài toán của t́nh yêu chứng minh một cách hiệu quả hơn bất cứ một bài toán nào khác. Không những chỉ cứu lấy 1 mà cứu lại toàn bộ 100.
T́nh yêu làm cho cuộc sống nên tốt hơn,
tôi tin là như thế và c̣n tin hơn nữa vào T́nh Yêu làm
cho sống và được sống dồi dào.
5.
Linh Mục người thể
hiện t́nh yêu của Thiên Chúa giữa
trần gian.
Khi ban bí tích sám hối, linh mục giống
như người đi chăn chiên t́m con chiên lạc,
như người Samaria nhân hậu đón nhận
người thương tật và đem chữa lành, ,
như người cha nhân hậu đón đợi
người con trở về, như người quan án xét
xử công bằng và nhân hậu. Không phải như là chính
linh mục tha thứ, nhưng người linh mục
thể hiện t́nh yêu thương của Chúa trên trần
gian, chính Thiên Chúa băng bó, chữa lành vết thương
ḷng. Linh mục là dấu chỉ và khí cụ của ḷng
thương xót của Thiên Chúa. Không chỉ là một khí
cụ vô tâm, người linh mục cần thông hiểu
đoàn chiên của ḿnh, chia sẻ những khốn cùng
đau thương của con người, có kinh nghiệm
về những ǵ liên quan đến con người.
Người linh mục như ḷng Chúa mong ước là
người có trái tim biết đón nhận những ǵ
chưa thành ṭan của hối nhân, để cầu
nguyện và đền tội giúp hối nhân và phó thác
họ cho ḷng thương xót của Thiên Chúa.
Việc chữa lành đ̣i hỏi sự tôn
trọng và tế nhị đối với hối nhân, cho
nên mọi bí mật của hối nhân xưng ra trong toà
giải tội, không bao giờ được phép tiết
lộ. Ấn tích của Toà giải tội không có luật
trừ nào cho việc tiết lộ.
Cách đây khá lâu vào năm 1988, trong tập san
“kiến thức ngày nay” người ta có đăng
một bài viết về “Ngôi mộ cô đơn”, câu
chuyện kể về một linh mục giải tội,
cốt truyện như sau: Một tên cướp vào
một đêm nọ đột nhập vào pḥng cha xứ,
hắn không lấy ǵ hết ngoại trừ chiếc áo
ḍng và đôi giầy của vị linh mục để
mặc vào. Sau khi đóng giả là vị linh mục hắn
đến nhà một người phụ nữ giàu có và
lớn tuổi. Sau khi nhấn chuông hắn chờ
đợi, từ trong nhà bà cụ nh́n qua lỗ cửa
thấy bóng dáng một linh mục, bà an tâm mở cửa. Bà
vừa mở cửa, tên cướp mau chóng tóm lấy bà và
tra khảo tiền bạc của bà, sau khi lấy
được của, hắn giết chết bà. Hắn
trở lại pḥng của vị linh mục, lay ngài dậy
và xin xưng thú tất cả những ǵ đă làm, trả
lại áo ḍng, đôi giầy và bỏ đi. Mấy ngày sau,
người ta theo dấu vết khám phá ra vị linh
mục chính là kẻ sát nhân. Người ta bắt ngài và
kết án chung thân, ngài không thể nói điều ǵ thanh minh
cho ḿnh được và vui ḷng đón nhận bản án. Án chung thân của ngài,
được thực hiện tại một vùng
đảo xa, chung quanh ḥn đảo ấy đầy
những đàn cá mập hung dữ. Ngày đầu tiên trên
đảo, các tù nhân trên
đảo ấy, biết ngài là một linh mục chịu
án sát nhân, họ khinh thường sỉ vả
người linh mục cách thậm tệ, người linh
mục vẫn im lặng chịu vậy. Vài năm lao
động cực khổ trôi qua, v́ là người hiểu
biết nhiều người ta giao cho ngài trách nhiệm coi
pḥng thuốc phát cho tù nhân, ngài thực hành không giống
như những người coi pḥng thuốc trước
đây, mỗi khi xin thuốc đều phải đút lót
nhiều ít th́ may ra mới lănh được ít thuốc.
Ngài chăm sóc bệnh nhân cách tận t́nh không vụ
lợi, dân dần người ta không c̣n nhớ đến
lỗi lầm của ngài khi mang bản án, có đôi khi
người ta cũng thắc mắc, một linh mục
nhân hậu như thế không thể là một tên sát nhân
được. Nhiều người trên đảo
nhận ra ngài là một người cha đúng nghĩa,
họ bắt đầu tuôn đến ngài không chỉ
được chữa lành phần xác mà cả phần
hồn. Nhiều năm sau, những ngày cuối đời
của ngài, có một chiếc tàu từ đất liền
chở ra những người tù chung thân mới, trên
chiếc tàu ấy, có tên sát nhân năm xưa, hắn bị
bắt có quả tang giết người. Hắn
đến đảo và sống trên đảo ấy,
hắn nghe nói rất nhiều về câu chuyện của
người linh mục phạm tội sát nhân, nhưng
lại là người rất nhân hậu, hắn nhớ
lại cái án chung thân khổ sai trước đây hắn
đă tránh được khi đổ tội cho vị
linh mục. Hắn nghe nhiều điều qua tốt lành
về ngài, lúc đầu hắn c̣n làm ngơ đi,
nhưng không thể làm ngơ được măi, bởi v́
chính hắn cũng có một ngày, cần đến sự
chăm sóc của vị lương y già. Ngài đă hết
ḷng chăm sóc hắn như người con. Xúc động
v́ việc ngài làm cho hắn, hắn đă tự thú tất
cả những điều hắn đă gây ra trước
đây và minh oan cho vị linh mục. Mọi người
nhận ra sự thật, nhưng cũng là những ngày
cuối đời của vị linh mục, trước
khi ngài mất, ngài để lại chúc thư cho những
người có quyền, xin tha án cho kẻ đă hại
ngài, để hắn có một cơ hội phục
hồi nhân cách và sống những điều tốt đẹp
mà hắn chưa từng sống. Ngài đă qua đời
trong sự an b́nh giữa những ṿng tay người thân
yêu trên đảo. Theo thông lệ, những xác của tù nhân
sau khi chết sẽ được thuỷ táng, nhưng
đối với vị linh mục, người ta
đề nghị xin được chôn cất ngài trên
đảo. Một sự kiện duy nhất trện
đảo, mà người viết lại câu chuyện này
chính là người tù khổ sai sau khi được ân xá
nhờ di chúc của vị linh mục, ông đă đặt
tên cho cuốn sách là “Ngôi mộ cô đơn”.
Linh mục cũng là một hối nhân, cũng
là người cần đến ḷng thương xót
của Thiên Chúa. Cuộc sống phủ bụi đi
nhiều h́nh ảnh, dấu chỉ của Thiên Chúa nơi
người linh mục, cần có những cuộc tĩnh
tâm, những lần lau sạch để làm mới lại
trong Đức Kitô. “Đời sống linh mục có
thể bị suy thoái nếu chính họ thờ ơ,
hoặc v́ một lư do nào khác, không đến với Bí tích
Hoà Giải một cách đều đặn với
đức tin và ḷng sốt sắng đích thực. Nếu
một linh mục không c̣n đi xưng tội nữa
hoặc xưng tội không nên th́ sứ vụ linh mục
của ngài sẽ sớm bị ảnh hưởng, và chính
cộng đoàn do linh mục dẫn dắt sẽ nhận
ra điều đó”… “chúng ta, các linh mục khởi đi
từ kinh nghiệm cá nhân ḿnh, có thể nói chắc chắn
rằng, càng t́m đến bí tích hoà giải thường
xuyên với sự chuẩn bị kỹ lưỡng, chúng
ta càng đảm nhiệm tốt hơn tác vụ giải
tội và bảo đảm rằng, các hối nhân sẽ
hưởng được ân phúc nhiều hơn. Trái
lại, tác vụ này sẽ mất nhiều hiệu năng
nếu một cách nào đó, chúng ta không c̣n là những
hối nhân thực thụ nữa.”[2]
6.
Hướng dẫn của Giáo Hội
về Mục vụ Bí Tích:
Trích tự sắc “Ḷng thương xót”.
V́ vậy, sau khi tham khảo ư kiến của
Bộ Giáo Lư Đức Tin, Bộ Phụng Tự và Kỷ
Luật Bí Tích, và Hội Đồng Giáo Hoàng về Giải
Thích Các Văn Bản Pháp Quy, và sau khi nghe ư kiến của
Anh Em Hồng Y tôn kính phụ trách các bộ phủ trong giáo
triều Rôma, và tái khẳng định tín lư Công Giáo về
Bí Tích Thống Hối và Ḥa Giải được tóm tắt
trong Giáo Lư Công Giáo, 11nhận thức về trách nhiệm
mục tử của tôi và hoàn toàn ư thức về nhu
cầu của Bí Tích này cũng như hiệu năng lâu dài
của nó, tôi truyền như sau:
1. Các Đấng Bản Quyền phải
nhắc nhở các thừa tác viên của Bí Tích Giải
Tội rằng luật phổ quát của Giáo Hội,
ứng dụng tín lư Công Giáo trong phạm vi này, đă quy
định rằng:
a) "Phép xá giải và phần không thể
thiếu được là việc xưng tội riêng là
cách thế thông thường duy nhất mà người tín
hữu, có ư thức về tội trọng, có thể ḥa
giải với Thiên Chúa và Giáo Hội; chỉ những lư do
bất khả về thể lư hay luân lư mới
được chuẩn chước khỏi cách xưng
tội như thế, trong trường hợp đó ơn
ḥa giải có thể nhận được bởi
những cách thức khác".
[3]
b) Do đó, "tất cả những ai có
nhiệm vụ chăm sóc cho các linh hồn buộc phải
bảo đảm rằng khi được người
tín hữu yêu cầu cách hợp lư, họ sẽ thực
hiện công việc đă được kư thác cho họ là
nghe xưng tội, và rằng các tín hữu được
cho cơ hội để xưng tội cá nhân, vào
những ngày và giờ quy định thuận lợi cho các
tín hữu".[4]
Hơn thế nữa, tất cả linh mục
với năng quyền ban phát Bí Tích Giải Tội
phải luôn luôn chứng tỏ họ nhiệt t́nh muốn
ban phát bí tích này bất cứ khi nào người tín hữu
đưa ra lời thỉnh cầu hợp lư.[5] Một sự miễn
cưỡng chào đón con chiên bị thương, ngay
cả việc không sẵn ḷng bước ra với họ
để mang họ về trong đàn, là một dấu
chỉ xấu của sự thiếu nhạy cảm
mục vụ nơi những người, mà qua việc
được Thụ Phong linh mục, cần phản
chiếu h́nh ảnh của vị Mục Tử Tốt
Lành.
2. Các đấng Bản Quyền Địa
Phương, các linh mục coi xứ, và những vị coi
sóc các thánh đường và đền thờ, cần
phải xác minh thường xuyên rằng các tín hữu
đă được dành cho cơ hội tốt nhất
để xưng tội. Đặc biệt đề
nghị rằng tại những nơi thờ
phượng, các cha giải tội phải hiện
diện tỏ tường vào những thời điểm
đă niêm yết, những thời điểm này phải
thay đổi cho phù hợp với những hoàn cảnh
thực sự của hối nhân, và đặc biệt
việc xưng tội phải có thể thực hiện
được trước Thánh Lễ, và ngay cả trong
Thánh Lễ nếu có những linh mục khác, để
đáp ứng nhu cầu của giáo dân.[6]
3. V́ "người giáo dân buộc phải
xưng ra, theo từng loại và số lần phạm,
tất cả tội trọng đă phạm sau khi
được Rửa Tội mà họ ư thức sau khi xét
ḿnh cẩn thận và chưa được tha bởi
năng quyền tháo gỡ của Giáo Hội, cũng
chưa được thú nhận trong khi xưng tội
riêng",[7]
mọi thực hành giới hạn việc xưng tội
trong việc xưng thú tổng quát hay chỉ giới
hạn vào một hay hai tội được đánh giá là
quan trọng hơn cả đều đáng bị
khiển trách. Thực ra, trong quan điểm mọi tín
hữu đều được mời gọi để
nên thánh, họ được khuyến khích để
xưng cả các tội mọn nữa.[8]
4. Dưới ánh sáng và trong khuôn khổ của
những chuẩn mực trên, việc xá giải một
số hối nhân cùng lúc mà không có việc xưng tội
trước, như dự kiến trong điều 961
của Bộ Giáo Luật cần phải được
hiểu và ban phát đúng. Việc xá giải như thế
thực ra là "bất thường"[9] và
"không thể được thực hiện trong
những cách thức thông thường trừ khi:
1. Trong hoàn cảnh nguy tử đang ập
đến và không có thời gian đủ cho linh mục hay
các linh mục nghe xưng tội của từng hối
nhân;
2. Nhu cầu cấp thiết nghiêm trọng
xảy ra, nghĩa là, khi đứng trước con số
hối nhân mà không đủ số cha giải tội
để có thể nghe giải tội trong một cách
thế xứng hợp trong một thời gian phù hợp
khiến cho các hối nhân bị tước mất ân
sủng bí tích hay không được Rước Ḿnh Thánh
Chúa trong một thời gian dài mà không phải do lỗi
của họ; [tuy thế]không thể coi là cần thiết
đủ nếu thiếu các cha giải tội chỉ v́
số lượng lớn của hối nhân, như có
thể xảy ra trong các dịp lễ lớn hay hành
hương"[10]
Liên hệ đến trường hợp nhu
cầu cấp thiết nghiêm trọng, cần minh bạch
như sau:
a) Nhu cầu cấp thiết nghiêm trọng quy
chiếu đến những hoàn cảnh bất
thường một cách khách quan, chẳng hạn có thể
xảy ra tại các xứ truyền giáo hay tại các
cộng đoàn tín hữu biệt lập, khi các linh mục
chỉ có thể viếng thăm một vài lần trong
năm, hay trong điều kiện của chiến tranh
hoặc thời tiết hay những yếu tố
tương tự.
b) Không thể tách rời hai điều
kiện nhằm xác định nhu cầu cấp thiết
nghiêm trọng đă được quy định trong
khoản 961 của bộ Giáo Luật. Do đó, không thể
chỉ xét riêng sự kiện là người tín hữu có
thể được nghe xưng tội "trong một
cách thế xứng hợp" và "trong một thời
gian phù hợp" do việc thiếu linh mục hay không; mà
điều này phải được phối hợp
với sự kiện là liệu hối nhân có bị
tước mất hồng ân bí tích "trong một
thời gian dài", mà không phải do lỗi của họ
hay chăng. Thành ra, cần phải tính đến toàn
bộ các hoàn cảnh của các hối nhân và của Giáo
Phận, trong những ǵ liên quan đến tổ chức
mục vụ của giáo phận và khả năng của
tín hữu có thể tiếp cận với Bí Tích Giải
Tội.
c) Điều kiện đầu tiên, nghĩa
là việc không thể nghe xưng tội "trong một
cách thế xứng hợp" "trong một thời gian
phù hợp", chỉ liên hệ đến thời gian
đ̣i hỏi cách hợp lư cho các yếu tố của
một cử hành hợp lệ và xứng đáng Bí Tích này.
Ở đây không đặt vấn đề về các
đối thoại mục vụ mở rộng hơn, mà
có thể để dành lại trong những hoàn cảnh
thuận lợi hơn. Thời gian hợp lư và xứng
hợp cho việc nghe xưng tội sẽ tùy thuộc vào
khả năng cụ thể của cha giải tội hay
các cha giải tội, và của chính các hối nhân.
d) Điều kiện thứ hai đ̣i hỏi
một sự phán đoán thận trọng trong việc
đánh giá thời gian bao lâu hối nhân có thể bị
tước đi hồng ân bí tích trong điều kiện
bất khả thực sự như được mô
tả trong điều 960 của Giáo Luật, với
giả định rằng không có t́nh trạng nguy tử
gần kề. Một sự phán đoán như thế
sẽ không là thận trọng nếu nó bóp méo ư thức
về sự bất khả thể lư và luân lư như
thường xảy ra, chẳng hạn, nếu coi một
thời gian ít hơn một tháng là "một thời gian
dài" trong t́nh trạng bị tước đoạt
ơn thánh.
e) Không thể chấp nhận việc tạo
nên hoặc cho phép tạo nên những hoàn cảnh có vẻ
là cấp thiết nghiêm trọng, xuất phát tự sự
cử hành không b́nh thường của Bí Tích Thống
Hối v́ không tuân giữ các qui luật nói trên đây,[11] và
càng không thể chấp nhận sự chọn lựa
của các hối nhân muốn lănh nhận sự xá giải
tập thể, như thể đó là một điều
thông thường tương đương với hai h́nh
thức b́nh thường được mô tả trong sách
Nghi Thức Thống Hối.
f) Chỉ nguyên sự kiện có đông hối nhân không
đủ để cấu thành sự cấp thiết
nghiêm trọng không những trong các dịp lễ trọng
hoặc hành hương, mà cũng vậy đối
với việc du lịch hoặc v́ những lư do khác do tính
chất lưu động ngày càng gia tăng của con
người tạo nên.
5. Người có thẩm quyền xác
định xem có đủ điều kiện theo
khoản Giáo Luật số 961 triệt 1 và 2 hay chăng
không phải là Cha Giải Tội nhưng là "Đức
Giám Mục Giáo Phận sau khi xét đến các tiêu chuẩn
đă thỏa thuận với các thành viên khác trong Hội
Đồng Giám Mục, Ngài có thể xác định
những trường hợp nào được coi là
cấp thiết".
[12]
Những tiêu chuẩn mục vụ trong
những lănh thổ liên hệ phải biểu lộ
sự t́m kiếm và trung thành hoàn toàn với các tiêu chuẩn
căn bản được kỷ luật chung của
Giáo Hội mô tả. Các tiêu chuẩn này cũng dựa trên
những đ̣i hỏi phát xuất từ chính Bí Tích
Thống Hối do Chúa thiết lập.
6. Trong vấn đề rất quan yếu
đối với đời sống Giáo Hội này,
điều tối quan trọng là sự ḥa hợp hoàn toàn
giữa các hàng Giám Mục với nhau trên thế giới,
các Hội Đồng Giám Mục chiếu theo khoản 455
triệt 2 của Bộ Giáo Luật, hăy sớm gởi
về Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích văn
bản các qui luật mà các Hội Đồng Giám Mục
muốn công bố hoặc cập nhật dưới ánh
sáng tự sắc này về việc áp dụng khoản Giáo
Luật số 961. Việc này sẽ tạo điều
kiện cho sự hiệp thông ngày càng sâu rộng hơn
giữa các Giám Mục trong toàn thể Giáo Hội, thúc
đẩy ngày càng nhiều các tín hữu khắp nơi kín
múc dồi dào nơi nguồn mạch ḷng từ bi của
Thiên Chúa qua Bí Tích Ḥa Giải.
Trong viễn tượng hiệp thông này, các
Giám Mục Giáo Phận cũng nên tham chiếu các Hội
Đồng Giám Mục liên hệ về việc kiểm
điểm những trường hợp cấp thiết
nghiêm trọng trong khuôn khổ quyền tài phán của ḿnh. Tiếp
đến nhiệm vụ của Hội Đồng Giám
Mục là thông báo cho Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật
Bí Tích về t́nh h́nh cụ thể trong lănh thổ của
ḿnh và những thay đổi nếu có diễn ra sau đó.
7. Về những điều kiện bản
thân của hối nhân, cần phải tái khẳng
định rằng:
a) "Để lănh nhận hữu hiệu
ơn xá giải ban một trật cho nhiều
người, các tín hữu không những phải có tâm t́nh
thích đáng, nhưng c̣n phải dốc ḷng cách riêng sẽ
đi xưng tội riêng các tội trọng mà trong lúc này
ḿnh không thể xưng được"
[13].
b) Khi có thể được, ngay cả trong
trường hợp nguy tử, cần cố gắng
hết sức khuyên nhủ "mỗi người lo
việc đền tội"
[14].
c) Rơ ràng rằng các hối nhân sống trong t́nh
trạng thường xuyên với các tội trọng và
những ai không có ư định thay đổi t́nh trạng
của họ không thể nhận được ơn xá
giải cách thành sự.
8. Bổn phận phải "xưng các
tội trọng mỗi năm ít nhất một
lần"[15]
vẫn c̣n hiệu lực, và do đó "một
người có tội trọng đă được tháo
gỡ bởi việc xá giải chung phải đi xưng
tội riêng ngay khi có cơ hội trước khi nhận
một phép xá giải chung khác, trừ phi có ngăn trở
chính đáng"[16] .
9. Liên quan đến nơi chốn và ṭa
giải tội để cử hành Bí Tích này, cần
nhớ rằng:
a) "Nơi chốn thích hợp để nghe
xưng tội là nhà thờ hay một nguyện
đường",[17]
mặc dù đă rơ là những lư do mục vụ có thể
biện minh cho việc cử hành Bí Tích này tại các
địa điểm khác.[18]
b) Các ṭa giải tội cần theo các chuẩn
định ban hành bởi các Hội Đồng Giám
Mục, những đấng phải bảo đảm
rằng các ṭa giải tội phải được
bố trí tại một "khu vực không hạn
chế" và có "lưới che", sao cho các tín
hữu và các cha giải tội có thể sử dụng
chúng dễ dàng khi cần.[19]
Tôi truyền rằng mọi điều tôi
đă quy định trong Tông Thư được ban hành
dưới dạng Tự Sắc có hiệu lực
đầy đủ và chung thẩm và phải
được tuân thủ từ hôm nay trở đi, băi
bỏ bất cứ điều khoản nào ngược
lại. Tất cả những ǵ đă truyền trong
Thư này, tự bản chất, có giá trị cho các Giáo
Hội Công Giáo Đông Phương theo quy định
của Giáo Luật tương ứng dành cho họ. (Gioan
PhaoLô II, ngày 07 – 4 - 2002)
Bí tích hoà giải là bí tích gặp gỡ ḷng
thương xót của Thiên Chúa, linh mục là thừa tác
viên cho ḷng thương xót ấy. Xin cho dấu chỉ t́nh
thương của Chúa mỗi ngày sáng hơn trong chúng con.
[1] Mt 18, 12 - 14
[2] Sám
hối và hoà giải, số 31.
[3]Giáo Luật 960.
[4]Giáo Luật 986, triệt 1
[5] Xem. Công Đồng Chung Vatican II, Sắc Lệnh về Mục Vụ và Đời Sống Linh Mục, Presbyterorum Ordinis, 13; Ordo Paenitentiae, editio typica, 1974,Praenotanda, No. 10, b.
[6]Xem. Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích,Responsa ad dubia proposita: Notitiae, 37 (2001) 259-260.
[7]Giáo Luật 988, triệt 1
[8] Xem. Giáo Luật 988, triệt 2: John Paul II, Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Giám Mục về Ḥa Giải và Thống Hối (2 Tháng 12 1984), 32: AAS 77 (1985) 267; Sách Giáo Lư Công Giáo, 1458.
[9] John Paul II, Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Giám Mục về Ḥa Giải và Thống Hối (2 Tháng 12 1984), 32: AAS 77 (1985) 267.
[10] Giáo Luật 961, triệt 1
[11] Xem. Nos. 1 and 2.
[12] Giáo Luật 961, triệt 2
[13]Giáo Luật 962, triệt 1
[14] Giáo Luật 962, triệt 2
[15] Giáo Luật 989
[16]) Giáo Luật 963.
[17] Giáo Luật 964, triệt 1
[18] Xem. Giáo Luật 964 triệt 3.
[19]
Hội Đồng
Giáo Hoàng về Diễn Giải Văn Bản Pháp Quy, Responsa
ad propositum dubium: de loco excipiendi sacramentales confessiones (7 Tháng
Bẩy 1998): AAS 90 (1998) 711.
Bản dịch Việt Ngữ của J.B. Đặng
Minh An