xin vâng
T́m một giá trị, t́m một ư
nghĩa, để khám phá ra một lối đường,
và dám can đảm xin vâng. Lời xin vâng đă khác xưa
nhưng vẫn không thiếu sự dễ mến như xưa.
Có lẽ những điều ấy dệt nên ḍng suy nghĩ
này.
“Xin vâng” Mẹ dạy con hai
tiếng xin vâng. Lời của bài hát xin vâng đă không
khỏi một lần vương lại mối suy tư.
Mẹ dạy con, có bao nhiêu điều mẹ dạy con,
nhưng ư nghĩa nào khi mẹ dạy con hai tiếng xin vâng?
Thời gian của mẹ, thời
gian của con, một chiều dài của thời gian, hai
tiếng ấy vẫn c̣n, mẹ dạy con hai tiếng xin
vâng. Ư nghĩa nào, có lẽ cần nhắc lại khung
cảnh thời gian của mẹ và khung cảnh thời
gian của con.
Mẹ Maria sống vào đầu và
cuối trước và sau công nguyên, đă hơn hai ngàn năm,
một thời gian rất xa. Quê hương của Mẹ,
người nữ không có thế giá, thế giới
của họ là gia đ́nh và những việc nội
trợ. Họ không được đi học cả
việc đạo cũng như đời. Họ không
được mời làm chứng tại toà án cũng như
không được lên tiếng trong nghi thức phụng
tự.
Thời gian của con: Phong trào
đ̣i nữ quyền khó mà có thể nói là từ lúc nào,
nhưng theo chiều hướng suy luận nguyên nhân -
hậu quả, th́ có thể thấy rơ phong trào đ̣i
nữ quyền có từ khi nam quyền chiếm ngôi. Như
vậy là rất xa xưa, từ khi văn minh hái lượm
kết thúc. Nền văn minh mà nam giới tự hào và
tiếm quyền của nữ giới ấy là nền văn
minh săn bắt. Bước lên ngôi bằng một
nền văn minh thô bạo, người nam không những
xâm phạm thô bạo đến thiên nhiên mà c̣n xâm
phạm thô bạo đến quyền người. Sáng
thế kư chương 3, có bằng chứng tố cáo
sự xâm phạm thô bạo của người nam:
“Đức Chúa là Thiên Chúa hỏi: "Ai đă cho ngươi
biết là ngươi trần truồng? Có phải ngươi
đă ăn trái cây mà Ta đă cấm ngươi ăn không?
"12 Con người thưa:
"Người đàn bà Ngài cho ở với con, đă
cho con trái cây ấy, nên con ăn."[1] Một
sự đổ tội trơ trẽn của người
nam, một con người hèn nhát trước trách
nhiệm. Quyền của người nam rơi vào sự
trơ trẽn đó. Sự trơ trẽn khi tráo trở
với chính ḿnh, trước đây khi Thiên Chúa dẫn
một người đến cho người nam th́ vui sướng
reo lên: "Phen này, đây là xương
bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng
sẽ được gọi là đàn bà, v́ đă
được rút từ đàn ông ra."[2],
lúc phạm tội th́ đổ thừa cho người
nữ. Như vậy người nam hèn nhát hay người
nữ hèn nhát? Sự hèn nhát đối với những người
có quyền theo minh chứng của lịch sử là luôn
cố bảo vệ bằng bạo lực và đàn áp.
Đấu tranh đ̣i quyền người
nữ v́ thế không phải là điều mới đây
mà là vấn đề từ xưa, cuộc đấu
tranh âm thầm hay như có lúc sóng vỡ là tuỳ theo
từng thời kỳ. Lúc nào và bao lâu người nam không
tự sửa đổi chính ḿnh, không tự nhận ra chính
người nam và người nữ cùng phẩm giá, cùng
được tôn trọng như nhau, bấy lâu vẫn c̣n
nổi sóng. Những làn sóng ngầm bao giờ cũng
mạnh hơn sóng nổi.
Phận người nữ mà
Mẹ vẫn tự nhận là “phận nữ tỳ” vào
hôm ngày truyền tin, là đại diện cho những người
phận nhỏ.
Những người phận
nhỏ gợi lại h́nh ảnh của những đứa
trẻ thơ, gợi lại những ngày thơ. Đứa
trẻ không biết tích luỹ, nó đang chơi một
tṛ chơi xây nhà trên cát, theo cách diễn tả của
Tagore. Nó không có quyền ǵ hết, mọi điều nó
phải xin. Đứa trẻ, không quyết định,
mọi điều cha mẹ quyết định, nó không
thể sống độc lập nhưng nó hoàn toàn
tuỳ thuộc vào cha mẹ. Đứa trẻ, trong
những t́nh thế ấy, nó chỉ biết xin vâng. Xin vâng
đầy ư thức của tuổi khôn lớn mà đón
nhận như đứa trẻ, là xin vâng tuỳ
thuộc vào Thiên Chúa. Sự tuỳ thuộc để Thiên
Chúa dùng như khí cụ biểu lộ quyền năng
của Người. Sự tuỳ thuộc là kinh nghiệm
của kenosis.
Những người phận
nhỏ c̣n là những con người không có quyền
ăn nói, những con người bị áp bức,
những con người bị chà đạp, những con
người đau khổ không thể kêu la. Xin vâng không
phải là thái độ chịu đựng nhưng là thái
độ không thể chấp nhận mà cần phải
tha thứ. Đấy là tiếng nói mạnh, mạnh hơn
sự chết, mạnh hơn quyền lực đè
bẹp trên họ. Xin vâng trong hoàn cảnh này, không
phải là không biết nhưng là sự xin vâng để
t́nh yêu chiến thắng, để T́nh yêu chữa lành.
Con đường này đ̣i hỏi kiên nhẫn, như người
nữ đă từng kiên nhẫn, sự kiên nhẫn
lặng im đứng dưới chân Thập Giá và là
sự kiên nhẫn tha thứ đến cùng.
Mẹ Maria trong tiếng xin vâng
đă nói thay tiếng lương tri của con người,
nhất là tiếng lương tri của những con người
đang bị chà đạp phẩm giá. Trong khi người
nam ngạo nghễ v́ những quyền được hưởng
th́ đă có những con người phải chịu hy sinh
cho những quyền lợi đó. Tiếng nói xin vâng là
tiếp tục tha thứ để tiếp tục khai sinh
nhân loại, sinh ra một nhân loại mới, yêu thương
hơn, đáng sống hơn. Chính những người
phận nhỏ trong tiếng xin vâng đang kiến tạo
nên một trời mới đất mới chứ không
phải là những người cầm quyền đầy
sức mạnh, đầy sự thao túng.
Người nữ trong tiếng xin
vâng của phận nhỏ đang làm một sức
sống khác nảy nở từ một gốc khô cằn.
Xin vâng của Mẹ Maria là sự
xin vâng đổ rỗng tất cả, đổ rỗng
trong nghĩa yêu thương có nghĩa là tha thứ
tất cả, để t́nh yêu đổ đầy.
Không có những giá trị hy sinh
của người nữ, người nam sống với
nhau như gốc cây khô cằn. Không có giá trị
tiếng xin vâng của Mẹ Maria, một nhân loại
vẫn c̣n đi trong tăm tối.
2. T́m một giá trị.
Giá trị của tiếng xin vâng
trước tiên là sự chữa lành. Người nam hèn
nhát th́ cho là tiếng xin vâng ấy biểu lộ sự
chịu đựng. Đă xin vâng là không bao giờ có thái
độ chịu đựng. Hai điều ấy mâu
thuẫn với nhau. Xin vâng là thái độ chủ động,
chịu đựng là thái độ bị động.
Mẹ Maria thưa tiếng xin vâng, xin vâng để Con Thiên
Chúa làm người để giải thoát con người
khỏi tội, để chữa lành cho con người.
Tội ban đầu là do một người nam, tội
trốn tránh trách nhiệm, tội hèn nhát, tội đổ
thừa của Adam, có quyền mà chẳng ra ǵ. Cứu
khỏi tội, Đức Giêsu, một người nam
đă sống hết ḿnh yêu thương, đón nhận
tất cả và tha thứ tất cả, để lập
lại quyền của người nam trong một nhăn quan
mới, đó là quyền để yêu thương,
quyền để phục vụ, quyền để tha
thứ tất cả, làm mới lại tất cả trong
nghĩa yêu thương, quyền để chết thay cho
người ḿnh yêu. Đức maria trong tiếng Xin vâng
đă sống kinh nghiệm Kenosis trong suốt cuộc đời
của Mẹ. Xin vâng để Thiên Chúa đến cư
ngụ giữa loài người. Xin Vâng như để cùng
với Chúa Con trong nhiệm cục cứu độ. Xin vâng
như một lưỡi đ̣ng thâu tim trong những đau
khổ của Con. Không có đau khổ nào của Con mà không
thấu đến tim Mẹ. Kenosis của Mẹ là kinh
nghiệm trải ra trong đau khổ, như một bà
mẹ đau đớn trong khi sinh hạ, sự đau
khổ được đón nhận bằng tiếng xin vâng
để sinh ra một nhân loại mới. Mẹ là người
duy nhất được đẹp ḷng Chúa, đă kinh
nghiệm về kenosis một cách sâu xa, xa hơn sự
chết, chiến thắng sự chết, vượt qua
tử thần nhờ thông phần vào sự chết
của Con của Mẹ.
Đó là một kinh nghiệm trút
bỏ hoàn toàn ngay khi c̣n sống, khó có người nào có
được kinh nghiệm trong lời “Xin vâng” như
thế. Đây là công tŕnh của Thiên Chúa thực
hiện nơi Mẹ. “Thiên Chúa đă làm cho tôi những
điều cao cả”, sự đổ rỗng nơi
tiếng Xin vâng quá hoàn toàn nên quyền năng Thiên Chúa cũng
đổ đầy hoàn toàn nơi Mẹ. Thiên Chúa nâng
cao những người phận nhỏ, cánh tay uy quyền
của Thiên Chúa dẹp tan ḷng trí kiêu căng. Sự kiêu
căng ngạo mạn xưa kia của con người
muốn bằng Thiên Chúa đă bị tiêu tan, niềm hy
vọng cho người phận nhỏ đă được
loé sáng.
Kinh nghiệm kenosis trong trường
hợp này có hai hướng, một hướng giàu có
trở thành nghèo khó, một hướng khác nghèo khó
trở thành giàu có. Nơi Thiên Chúa, Thiên Chúa chấp
nhận nghèo khó để con người trở nên giàu có.
Và trong thế gian, người giàu có sống cách xa
Lời Chúa trở về tay không. Người giàu có
nếu biết để cho Lời Thiên Chúa trở thành
lẽ sống của ḿnh họ cũng bước từ
lănh vực giàu có vật chất này sang sự giàu có tâm
linh. Đón nhận Lời Chúa và sống lời Người
là kinh nghiệm về kenosis, phó dâng đời ḿnh để
Thiên Chúa thực hiện Ư Người.
Xin vâng thứ hai là trút bỏ
bạc nhược của một Adam, Eva cũ, để
phục hồi và gia tăng các giá trị trong Adam mới
và Eva mới. Không có tiếng xin vâng của người
Mẹ là Đức Maria, không có tiếng xin vâng của Người
Con chết trên Thập Giá là Đức Giêsu, là không có
phục sinh, không có nguồn ơn giải thoát. Hậu
quả của tội lỗi là sự bạc nhược.
Sự bạc nhược là nguyên nhân của việc
chạy trốn, đổ lỗi cho nhau, đàn áp,
bất công, hiềm thù, ghen ghét… Thế nhưng, Xin vâng
đă trở thành hiện thực, con người lỳ
lợm, chạy trốn kia vẫn cứng đầu
cố chấp trong sự bạc nhược của ḿnh.
Sự cố chấp của con người vẫn để
cảnh bạc nhược thống trị, nghĩa là
vẫn để tội lỗi thống trị, từ
đó muôn vật phải rên xiết trong quyền của
con người. Sự bạc nhược làm cho quyền
cai quản trở nên quyền thống trị.
Xin vâng là thái cử kiên nhẫn,
không ai kiên nhẫn bằng người mẹ, kiên
nhẫn chờ đợi đứa con hư trở
về, kiên nhẫn chữa lành những tính hư tật
xấu của người con. Kiên nhẫn trong đời
sống gia đ́nh, trong đời sống cộng đoàn.
Kiên nhẫn đeo đuổi con đường sự
thiện, chấp nhận tất cả để tha
thứ tất cả. Sự kiên nhẫn làm nên những tác
phẩm tuyệt tác. Sự kiên nhẫn của thời gian
cần thiết để sinh hạ. Sự kiên nhẫn là
một t́nh trạng kenosis liên tục, để có kinh
nghiệm liên tục này, người đó đă luôn
cố gắng đổ rỗng trong mọi khoảnh
khắc đời ḿnh. Đức Maria có kinh nghiệm này
qua đời sống: “C̣n bà Ma-ri-a th́
hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi
nghĩ lại trong ḷng”[3].
3. Khám phá ra một lối
đường:
Con đường tu đức xem
ra thật cao nhưng thật ra bắt đầu từ
thấp, xem ra thật xa nhưng khởi đi từ
gần. Không ai lại không thể đi nếu đă
muốn đi.
Con đường tu đức
của Đức Maria đă đi, một linh đạo
rất gần, một lối lên từ chỗ thấp
trong cụm từ tiếng thưa: “Xin Vâng” thường
ngày.
Con đường tu đức
của Đức Maria gói trọn trong tiếng “Xin Vâng”,
đường đi rất thấp: chấp nhận
một thực tại, để đi đến chỗ
rất cao: “Xin Chúa cứ làm cho tôi”. Đây là một cách
nói rất đầy tính triết lư mà xưa Tử Tư
trong sách Trung Dung đă viết: “Quân
tử chi đạo, thí như hành viễn, tất tự
nhĩ, thí như đăng cao, tất tự ty”. Đời
sống nội tâm của con người, giống như
đi xa, phải từ chỗ gần, giống như lên
cao, đi từ chỗ thấp.
Con đường rất thấp:
“Nữ tỳ của Chúa”. Giống như những
thiếu nữ vào thời ấy, ai cũng mong muốn chính
ḿnh là người thừa hưởng lời loan báo: “Này
đây, một trinh nữ sẽ thụ thai” (Is 7, 14), mà
Isaia công bố. Lời loan báo ấy, được
thừa hưởng, nhưng ước mơ của các cô
vẫn chỉ là ước mơ, biết bao giờ đến,
ở đâu và là ai được lựa
chọn?...những chuỗi câu hỏi của niềm mong
đợi vào thời Đấng Thiên Sai thực hiện
lời hứa. Tin Mừng Luca tŕnh thuật cách rất
đơn giản: “Thiên Chúa sai sứ thần Gabrien đến
một thành miền Galilê, gọi là Nazaret gặp một
trinh nữ đă đính hôn với một người tên
là Giuse, thuộc nhà Đavit, trinh nữ ấy tên là
Maria” (Lc 1, 26 – 27). Lời hứa thực hiện, cũng
như con người được chuẩn bị cách âm
thầm không ngờ tới. Thiên Chúa đi từ chỗ
thấp mời gọi một con người cộng tác
để đi lên chỗ cao. Chọn một nữ tỳ
để thực hiện một quyền năng. Việc
Thiên Chúa làm không hệ tại vào hoàn cảnh, nhưng là
con người được chọn. Đức Maria
được lựa chọn và được chuẩn
bị từ lâu, người được chọn không
biết nhưng Thiên Chúa biết.
Bí quyết của Đức Maria
trong giai đoạn này là “Xin Chúa cứ làm cho tôi”.
“Xin Chúa cứ làm cho tôi” như Thiên Chúa đă từng
thực hiện trong lịch sử của dân tộc Do Thái:
“Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp
tan phường ḷng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ
những ai quyền thế. Người nâng cao mọi
kẻ khiêm nhường” (Lc 1, 51 – 52). Thái độ
“Xin Chúa cứ làm cho tôi” của Đức Maria là
một con đường linh đạo Xin Vâng. Xin Vâng sau
khi chiêm ngắm những điều Thiên Chúa đă
thực hiện trong lịch sử, như thánh Luca tŕnh bày
về Đức Maria rất cô đọng: “C̣n Bà Maria
th́ hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy” (Lc 2,
19). Hằng ghi nhớ để chiêm ngưỡng và để
sẵn sàng đáp trả tiếng Xin Vâng, đó là ba
chặng đường của tu đức.
4. Can đảm bước trên
một lối đi.
Đức Khổng Tử dạy các
học tṛ của ḿnh: “Tri chi giả bất như báo chi
giả; báo chi giả, bất như lạc chi giả”.
(Luận ngữ VI,12), nghĩa là “Biết đạo
chẳng bằng ưa đạo, ưa đạo
chẳng bằng vui với đạo”, con đường
vui với đạo là con đường trải qua ba
giai đoạn: Biết – Ưa thích - Vui. Biết th́ tương
đương với giai đoạn hằng ghi nhớ -
ưa thích tương đương với giai đoạn
chiêm ngưỡng – và vui với đạo th́ trùng
với tiếng Xin Vâng trong cuộc sống.
Con đường tu đức Xin
Vâng khởi đi từ sự biết, “vô tri bất
mộ”, biết là một hành tŕnh của lư trí, và
biết cũng là khởi sự của một hành tŕnh
biến đổi đời sống. Đức Maria
học biết từ gia đ́nh, lắng nghe những câu
truyện kể, nh́n xem những biến cố lịch
sử khi tưởng nhớ và trong cuộc đời
“hằng ghi nhớ”. Con đường đức tin là
con đường t́m hiểu măi không ngừng niềm tin
của ḿnh. Càng biết con người càng yêu mến
những ǵ hiểu biết. Con đường để
biết là một con đường gian khổ, giống
như Đức Khổng Tử nghiệm thấy trong con
đường rèn luyện tiến bộ của ḿnh: “Hưng
ư Thi, lập ư Lễ, thành ư Nhạc” (Luận
ngữ VIII, Thái Bá,9), “Khởi hứng từ Kinh Thi,
Uốn nắn bằng Kỷ luật, hoàn thành ở
nhạc”. Con đường tri thiên mệnh là con
đường khó khăn ban đầu để biết
được Ư của Trời. Biết để không
lạc hướng và như vậy là định hướng
cho con đường tu đức của ḿnh. Đức
Maria đă đi đúng con đường biết
bằng lư trí và biết bằng con tim. Trong phần đầu
của bài Magnificat, Đức Maria biểu lộ sự
biết đó: “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người
đoái thương nh́n tới; từ nay hết mọi
đời sẽ khen tôi diễm phúc” (Lc 11, 48).
Biết ḿnh là ai và biết ḿnh
được Thiên Chúa yêu thương là cái biết quan
trọng để an tâm bước đi trong hành tŕnh
cuộc đời.
Con đường đi của
Đức Maria cho thấy một hướng đi: Hăy
tiến thêm một chút nữa trong t́nh yêu, rồi sẽ
t́m kiếm Chúa trong t́nh yêu của Ngài. Và t́nh yêu ấy
cao hơn là chỉ chờ đợi Chúa ban phước lành.
Càng tiến lên, càng thấy Chúa tỏ lộ vinh quang
của Ngài. “Từ nay, hết mọi đời sẽ
khen tôi diễm phúc” (Lc 1, 48). Diễm phúc v́ thấy vinh
quang của Thiên Chúa toả sáng trong cuộc đời
của ḿnh, như người ta thường nói “các thánh
là những người được ánh sáng vinh quang
của Thiên Chúa chiếu qua”. Đức Maria là thế,
ngay ở giai đoạn đầu của con đường
tu đức đă là khởi sự con đường thánh
và rất thánh.
Giai đoạn hai trong con đường
linh đạo của Đức Maria là chiêm ngắm.
Biết để chiêm ngắm, suy gẫm những biến
cố xảy ra trong lịch sử và trong đời thường.
Giai đoạn này cũng gọi là biết nhưng là cái
biết già dặn thêm kinh nghiệm của t́nh yêu thương,
cái biết để đổ rỗng cuộc đời
của ḿnh. Thánh Phanxicô Xavier nói về sự biết này
như sau: “Kinh qua muôn vạn hiểm nguy chết người,
học cho biết ḷng Chúa yêu thương”. Học cho
biết ḷng Chúa yêu thương là biết bằng kinh
nghiệm của cuộc đời đă trải qua và
bằng các biến cố: “Đấng toàn Năng đă
làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người
thật chí thánh chí tôn. … Chúa hạ bệ những ai
quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.
Kẻ đói nghèo Chúa ban của đầy dư, người
giàu có, lại đuổi về tay trắng” (Lc 1, 49, 52
– 53). Lăo Tử là người đồng thời với
Khổng Tử nhưng lớn tuổi hơn Khổng
Tử, đă sống triết lư của ḿnh: “Khúc
tắc toàn, uổng tắc trực, oa tắc doanh, tệ
tắc tân, thiểu tắc đắc, đa tắc
hoặc” (Lăo Tử, Đạo
Đức Kinh. Ch. 22 theo Nguyễn Duy Cần), “Cái
khuyết lại tṛn, Cái cong lại ngay, Cái sâu lại
đầy, Cái cũ lại mới, Ít lại được,
Nhiều lại mê”. Chiêm nghiệm như là cái biết
đổ rỗng cuộc đời của ḿnh, trở nên
bé nhỏ trước cánh tay quyền năng của Thiên
Chúa: “Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người
nâng cao mọi kẻ khiêm nhường”. Càng biết
nhiều, con người lại càng trở nên khiêm
tốn. Càng khiêm tốn con người càng thấy
những điều kỳ diệu Thiên Chúa đă làm và
đang làm. Con người đổ rỗng là con người
hoàn toàn tín thác để sang giai đoạn ba.
Giai đoạn ba, giai đoạn
xin vâng. “Xin Chúa cứ làm cho tôi” như một lời
mạnh mẽ biểu lộ sự tín thác. Thiên Chúa đă
làm những điều trọng đại và vẫn
tiếp tục làm những điều trọng đại
như thế trong lịch sử nhân loại. Không dễ tín
thác như vậy đâu nếu đă chẳng trải qua
hai chặng đường phía trước. Đức
Maria là vị rất thánh thực sự khi can đảm
xin thưa: “Xin cứ làm cho tôi” đó là kết quả
của một con đường mà Khổng Tử nói
tới “Biết đạo chẳng bằng ưa đạo,
ưa đạo chẳng bằng vui với đạo”.
Thái độ sẵn sàng như tuỳ thuộc hoàn toàn vào
Thiên Chúa, đầy quả cảm của một con người
quyết tâm tín thác vào Thiên Chúa. Đức Maria, thực
là thày dạy nhân đức như lời kinh cầu
Đức Bà người giáo hữu thường đọc.
H́nh ảnh của tiếng Xin Vâng đến tuyệt
hảo là dưới chân Thập Giá nh́n cái chết
của người con mà Đức Maria vẫn một ḷng
“Xin cứ làm cho tôi”. Xin Vâng của lần đầu là
đón nhận một Người Con của Thiên Chúa, Xin
Vâng của lần sau là phó thác Người Con ấy cho
Thiên Chúa. Thiên Chúa ban cho, Thiên Chúa lấy lại, mọi
sự đều tuỳ thuộc vào Thiên Chúa, chỉ có
một điều: Để Ư Định yêu thương
của Thiên Chúa được thực hiện “V́ loài
người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi…”.
Lời Xin Vâng của Đức Maria trở thành niềm
tin Kính của con người dâng lên Thiên Chúa và làm nhân
chứng cho T́nh Yêu của Người. Nhân loại có
một người nữ thật tuyệt hảo để
thay cho nhân loại tán tụng: “Linh hồn tôi ngợi
khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui
mừng v́ Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi” (Lc
1, 46 – 47)
Lăo Tử nghiệm thấy: “Giang
hải sở dĩ năng vi, bách cốc vuơng giả, dĩ
kỳ thiên hạ chi” (Lăo tử, Đạo Đức
Kinh 66), Sở dĩ đại dương làm vua các sông ng̣i
bởi v́ đại dương ở thấp hơn sông
ng̣i. Con đường tu đức Xin Vâng là thế
đó “con đường đi xa khởi từ chỗ
gần, con đường lên cao bắt đầu từ
chỗ thấp”. Ai cũng
có khả năng nên thánh, và hăy tận dụng khả năng
ấy.
Thứ Bảy Tuần Thánh
Mùa Chay 2003
Điện Thánh mẫu Tân Hoà.
Lm Giuse Ḥang Kim Toan