Tưởng nhớ.

 
 

Người Việt không chỉ tưởng nhớ người chết một năm đôi ba lần, cũng không tưởng nhớ người khuất chỉ vài ba đời, nhưng trong các h́nh thức thờ kính tổ tiên của người Việt bàng bạc trong cuộc sống. Không ngày nào mà không nhớ đến tổ tiên, Không chỉ dừng lại đôi ba đời mà cả ḍng dơi nếu có thể kể hết được cho đến tận nguồn. Lối sống của người Việt, v́ thế, luôn lấy làm trọng việc “uống nước nhớ nguồn” mà dạy bảo con cháu.

Truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” lại là một Kenosis, t́m về nguồn cội của sự sống, dứt bỏ ḿnh trong hiện tại để hướng ḿnh về phía quá khứ, nơi người đă mang ḿnh đến, nơi ngọn nguồn sự sống của tổ tiên. T́m trong truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” những ư nghĩa thực tại cho nhân sinh, giải đáp những oan trái cuộc sống thường ngày gặp phải, t́m ra câu trả lời cho ư nghĩa cuộc sống. V́ thế, truyền thống “uống nước nhớ nguồn” ấy cứ bàng bạc trong mỗi ngày sống, dường như đang sống ở bên cạnh, để tổ tiên d́u dắt con cháu bước đi theo những kinh nghiệm đă trải qua của tổ tiên. 

Truyền thống “uống nước nhớ nguồn” h́nh thành những cộng đồng kinh tế. Hiệu quả của việc cấy cầy là nhờ tổ tiên phù trợ cho. Trong kinh tế của người Việt cũng lấy gia đ́nh làm đơn vị căn bản canh tác, già cả lớn bé đều làm cùng với nhau trên một cánh đồng, từ việc làm chung, hưởng chung đó mà gia đ́nh gắn bó với nhau hơn ai hết: “Chồng cầy vợ cấy, con trâu đi bừa” diễn tả sự hiệp nhất của một gia đ́nh.

Có những gia tộc lớn chiếm hết cả một làng th́ người ta thấy có ruộng làng - ruộng xă – cũng có ruộng hương hoả dành cho việc thờ kính tổ tiên. Dù một gia đ́nh nhỏ bé ít người cho đến một gia tộc lớn lao đi chăng nữa, gia đ́nh nào cũng quan trọng việc thờ kính tổ tiên. Ruộng hương hoả là không bao giờ được bán hay đem đi gán nợ dù có chết v́ đói. Nền kinh tế nông nghiệp thưở xưa, rất quan trọng những phần đất tổ để lại. Không có phần đất này, con cháu giống như người xa lạ, đến ăn nhờ ở đậu.  

Joshkimt