Giuđa Iscariot có lẽ anh rất buồn, có
biết bao người nhắc tên anh như một lời
nguyền rủa hay khinh bỉ. Khi anh ra khỏi pḥng
tiệc trời đă tối. Cái tối trời của
dự định trao nộp chính Thầy. Bao nhiêu năm
theo Thầy, anh cũng đă từng thấy những điều
tốt lành Thầy đă làm, anh cũng như bao môn đệ
khác, hy vọng được chia vào vương quyền
nào đó khi Thầy lên nắm quyền. Một khát
vọng rất người của anh, anh không khéo che
giấu, nên v́ thế anh bán nộp chính Thầy. Anh đă
quyết định đẩy đưa Thầy đến
chỗ bày tỏ vương quyền của Thầy khi
đến cùng đường sự chết. Cái tối
trời của ḷng tham vọng đă che mờ mắt lương
tâm của anh, giá bán Thầy chỉ bằng giá của
một người nô lệ, không chắc v́ anh đă tham
tiền cho bằng sự tham quyền. Sự ước ao
quyền vị ấy đâu chỉ riêng anh mới có mà các
môn đệ khác cũng thế. Sự mù tối của tâm
hồn muốn chiếm được địa vị
cao khiến có người môn đệ đi lối
đường cửa sau, như trường hợp bà
mẹ của hai người con ông Dê-bê-đê đến
xin Thầy chia vương quyền.
Sự tối trời mà Gioan đă ghi chép
lại có phần nào mang sắc thái diễn tả của
tâm hồn người A Đông, khi người ta nói
đến sự mê muội. Sự tối trời cũng
như sự tối ḷng của các môn đệ. Đă
hẳn nhiều làn Thầy đă nói với các môn đệ:
“Ai muốn làm lớn giữa anh em th́ phải làm người
phục vụ anh em” (Mt 20, 26), tiếc thay lời nói
ấy cũng như giọt nước đọng trên
những chiếc lá, mau khô đi v́ nắng lên. Con người
đam mê danh vọng có sự mờ tối của lối
đường, họ không nh́n thấy nhau, không nh́n
thấy ǵ khác ngoài quyền lực. Giuđa anh cũng
thế, không ai dám bỏ cả cuộc đời cuộc
đời ḿnh cho những điều được coi là
sự điên rồ của Thập Giá, nếu chưa
hiểu hết lối đường ấy dẫn ḿnh
đi tới đâu. Phêrô tuyên tín khi Thầy sắp ra
đi mạnh mẽ như thế nào, khi nói: “dầu
tất cả có vấp ngă v́ Thầy đi chăng
nữa, th́ con đây cũng chẳng bao giờ vấp ngă”
(Mt 26, 33). Lời nói ấy chưa kịp nguội đi, th́
đă bắt đầu bội phản. Sự bội
phản của con người cũng dễ như trở
bàn tay. Nếu không đi qua vấp ngă làm sao có thể
khẳng định với ḷng ḿnh, để gọi
Đức Giêsu “Là Thầy và là Chúa”. Sự vấp ngă
của anh Giuđa, cũng là do tối trời vậy thôi.
Anh Giuđa giao nộp Thầy, để
Thầy mau sớm tỏ bày vinh quang, cái nóng hổi
của ḷng nhiệt thành khi chưa hiểu biết hết
vị Thầy, cũng là cái vấp ngă. Giống như Phêrô
thay mặt cho các anh em của ḿnh vừa tuyên xưng:
“Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng
sống” (Mt 16, 16), để rồi cũng lại ngăn
cản ngay khi Thầy báo cuộc thương khó lần
thứ nhất :”Xin Thiên Chúa thương đừng
để Thầy gặp phải chuyện ấy” (Mt 16,
22). Sự nóng vội cũng là sự tối trời mà người
ta thường nói “tối mặt, tối mày”. Cái
tối trời của ḷng nhiệt thành, khi anh trách Maria
lấy dầu thơm để xức chân Thầy mà không
lấy cho tặng người nghèo. Việc làm của t́nh
yêu đáp trả là một việc làm xem ra vô lư, nhưng
lại là việc làm đầy ư nghĩa. Có lẽ anh chưa
bao giờ cảm nghiệm sự bao dung của Thầy, có
thể v́ anh vô t́nh không nghe lời Thầy trách khẽ:
“người nghèo, th́ anh em luôn có bên cạnh; c̣n
Thầy anh em không có măi đâu” (Ga 12, 8). Đâu biết
lần xức dầu này là lần báo trước ngày mai
táng Thầy trong mộ. Anh tối trời nên anh vẫn vô
t́nh trước lời Thầy loan báo.
Ba mươi đồng anh quăng trả
lại cho người mua chuộc, giống như Phêrô
nghe tiếng gà gáy và chợt tỉnh lời Thầy loan báo:
“Nội đêm nay gà chưa kịp gáy, th́ anh đă
chối Thầy 3 lần” (Mt 26, 34). Giống như mọi
người, anh Giuđa, cũng chợt tỉnh như khi
trong bàn tiệc, khi Thầy báo có người trong anh em
sẽ nộp Thầy. “Thưa Thầy, chẳng lẽ con
sao?” (Mt 26, 22). Một câu hỏi giật ḿnh cho các môn
đệ chứ chẳng riêng anh, trong thâm tâm của anh
chắc có lẽ buồn khi nghe chính Thầy trả
lời: “chính anh nói đó” (Mt 26, 25). Buồn quá
phải không anh, ba năm theo Thầy đổi lấy ba mươi
đồng bạc thôi sao. Thế mà đâu chỉ riêng
anh, bao người theo Thầy cũng mong đổi chác
được cái này và cái kia chứ đâu t́m kiếm
chính Thầy. Sự bội phản của con người
là điểm t́m kiếm thấp hèn ấy, sự tối
trời cũng là điểm u mê ấy.
Cuối cùng khi nghĩ về anh Giuđa, tôi cũng
chỉ tiếc cho anh, không thấy được ḷng bao
dung của Thầy. Phêrô gặp được ánh mắt
của Thầy để giật ḿnh thống hối, các
môn đệ khác, người về quê th́ gặp đấng
Phục Sinh bẻ bánh, người khác ở lại
cầu nguyện cũng gặp Đấng Phục Sinh
hiện ra giữa họ. Riêng anh cái tối trời
của thân phận đeo đuổi tới cùng để
kết liễu đời ḿnh bằng chiếc tḥng
lọng. Đă bao lần theo Thầy, chẳng lẽ không
thấy được ḷng thương xót của
Thầy? Có lẽ có mà chỉ là quên chưa bao giờ anh
thực hành lời Thầy dạy. Chính sự quên ấy,
giống như cuộc đời chuẩn bị một
chiếc tḥng lọng để kết thúc đời ḿnh
trong vô vọng. Người không thực hành Lời
Thầy, là người đem theo sự tuyệt vọng
dệt thành chiếc tḥng lọng, phải không anh?. Và tôi
nhớ lại lời Thầy nhắc: “Tại sao anh em
gọi Thầy: ‘ Lạy Chúa ! Lạy Chúa !’, mà anh em không
làm điều Thầy dậy?” (Lc 6, 46).
Ai cũng vấp ngă nhưng ḿnh anh kết thúc sự vấp ngă của ḿnh cách tuyệt vọng. Tôi cũng tự nhủ, lối đường tuyệt vọng ấy cũng là con đường của tôi, nếu tôi không bắt đầu thực hành yêu thương như Thầy đă yêu thương. Sự mù loà về T́nh Yêu là sự tối trời đáng sợ hơn cả. T́nh yêu khám phá ra niềm hy vọng, và mở lối cho anh em, phải không anh. T́nh Yêu Thập Giá trả lời câu hỏi đó và để nhắc nhở ḿnh : “Hăy Yêu như Giêsu”.
Thứ Năm Tuần Thánh 2002
Lm Giuse Ḥang Kim Toan