Linh Hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa.  

Mừng Kính Đức Maria hồn xác lên trời hôm nay chúng ta hăy nh́n lại cuộc đời của ḿnh, tại sao không là cuộc đời ngợi khen Thiên Chúa?

Đặt ra câu hỏi này cho tôi, để tôi cần được thấy những điều trọng đại mà Thiên Chúa đă thực hiện cho tôi qua lịch sử dân tộc và lịch sử đời thường cá nhân của tôi. 

  “Chúa độ tŕ Israel , tôi tớ của Người”.

(Lc 11, 54).

Hoàn cảnh của lịch sử một dân tộc.

Với cách nh́n lịch sử của Đức Maria, cuộc đời dân tộc của Mẹ đă trở thành lời ca tụng Thiên Chúa. Đây là điều quan trọng trong cuộc sống, bởi v́ cuộc sống này dù thế nào chăng nữa vẫn là một cuộc sống được thừa hưởng, thừa hưởng gia sản quư báu mà cha ông để lại, là một dân tộc được hiến thánh. Một dân tộc nhỏ bé giữa triều đại Đế quốc Roma rộng lớn, cường thịnh. Một dân tộc được hiến thánh  cho Thiên Chúa giữa muôn dân được tuyển chọn từ một cụ già gần đất xa trời là Abraham mà vẫn chưa có một đứa con nối dơi tông đường. Thiên Chúa đă khởi đi từ những ǵ là mong manh ấy để chuẩn bị  cho cho một dân riêng để thờ phượng Thiên Chúa. Giữa muôn ngàn nghịch cảnh của lịch sử, Thiên Chúa đă cho dân tộc Israel được thấy, họ  là “con số c̣n sót lại” để thờ kính Thiên Chúa. Thiên Chúa, Người thích đi con đường nhỏ.

Tại sao một lịch sử nhỏ bé của một dân tộc Việt Nam lại không đọc thấy con đường nhỏ này. Một quốc gia nhỏ bé giữa vùng Châu Á. Một quốc gia biết tôn trọng sự sống được biểu lộ ra bằng h́nh thức “cầu tự” trong truyền thống dân gian. Một dân tộc đă trải qua một ngàn năm chịu đô hộ giặc Tàu, một trăm năm dưới ách giặc Tây và nhiều năm trong những thử thách của chiến tranh, mà vẫn mang trong ḿnh gióng máu Việt. Từ ḷng Âu Cơ, Thiên Chúa đă chuẩn bị cho dân tộc Việt Nam một dân được hiến thánh cho Thiên Chúa. Từ một con người rất b́nh thường của một gia đ́nh nông thôn nghèo khó, Thiên Chúa đă biểu lộ quyền năng của Người nơi gia đ́nh bà Annê Lê Thị Thành, một phụ nữ Việt Nam. Từ một lịch sử đức tin của đời thường ấy Thiên Chúa đă làm bao điều cao trọng. Máu bà đă đổ cũng như máu các Thánh Tử Đạo đă đổ, các vị là một “con số nhỏ” mà Thiên Chúa đă thực hiện. Lịch sử Cứu độ của Người cho dân tộc Việt Nam. Giống như từ cung ḷng héo hắt của bà Sara, Thiên Chúa đă gầy dựng một dân. Đức tin của dân tộc Việt ấy đă mọc lên từ máu Tử Đạo, kết trái đơm hoa bằng những con người tử đạo, trong đó có máu tử đạo của một người nữ. Trong giai đoạn lịch sử tử đạo này, tôi thích đọc lại h́nh ảnh của nhà văn H.Sienkievich trong tác phẩm “Quo vadis”, diễn tả khi Phêrô trốn ra khỏi thành Roma trở về và nhận ra :“Hoàng đế cùng tất cả các đạo quân của y cũng không thể thắng được chân lư đầy sức sống kia, cả nước mắt lẫn máu tươi đều không thể nhận ch́m nổi chân lư đó, giờ đây mới là lúc chân lư bắt đầu chiến thắng. Ông cũng hiểu được tại sao ông được gọi quay trở lại giữa đường trốn chạy: Chính cái thành phố của xa hoa, tội ác, truỵ lạc và bạo tàn này đă biến thành thành phố của ông, trở thành thủ đô hai lần thủ đô, từ thủ đô ấy sẽ trào tuôn ra thế giới sự ngự trị của thể xác lẫn linh hồn”. Suy nghĩ này dẫn dắt tôi đến với lịch sử dân tộc tôi  hôm nay: “Cho dù có cả triệu thai nhi bị giết chết trong một năm, nơi đây vẫn c̣n từ những cung ḷng của bao bà mẹ khác vẫn không ngừng đón nhận con cái là hồng ân Chúa ban, để sinh ra những người con cho trần thế và cho Nước Trời”. Thiên Chúa đă làm những điều kỳ diệu trong lịch sử và c̣n tiếp tục thực hiện trong lịch sử của nhân loại.

Với một góc nh́n ấy về sự kiện của ngày Đại Hội giới Trẻ lần thứ 17 tại Toronto, tôi tin rằng Thiên Chúa vẫn đang bày tỏ uy quyền của Người qua những con số nhỏ dám chấp nhận đang lội ngược ḍng thế gian này và h́nh ảnh Giáo Hoàng giữa các bạn trẻ tại Toronto, giống như môn đệ Phêrô, qua dáng người bước ra pháp trường của ngày hôm ấy mà tác phẩm “Quo Vadis” diễn tả: “Vị lăo ngư thường ngày vẫn nhẫn nhục c̣ng lưng, lúc này bước thẳng người, tầm vóc hơn đám binh lính, đầy vẻ trang trọng. Chưa bao giờ người ta thấy ở ông ấy ngần ấy vẻ uy nghi. ngỡ như đó là một vị quốc vương đang đi giữa dân chúng và binh lính”.

Tôi tin rằng những con người đang bênh vực cho chân lư của sự sống vẫn mang một dáng người như thế giữa ngàn trùng sự dữ, đang bước đi hiên ngang đi về phía trước.

Trong một nhăn quan lịch sử như thế, tôi đang được thừa hưởng sự sống, tôi không thể nào mà không thấy được trong mọi hoàn cảnh của ngày hôm nay lời tán tụng Thiên Chúa, mang nỗi ḷng mừng vui của Đức Maria: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa…” khi lịch sử cứu độ c̣n đang vận hành trong những người mẹ đón nhận những đứa con là hồng ân Thiên Chúa.

 

“Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đă đoái thương nh́n tới”.

Ơ xứ Palestine thời Chúa Giêsu người nữ không có thế giá, thế giới của họ là gia đ́nh và những việc nội trợ. Họ không được đi học cả việc đạo cũng như đời. Họ không được mời làm chứng tại toà án cũng như không được lên tiếng trong nghi thức phụng tự.

Đức Maria là một thiếu nữ nông thôn, mộc mạc, chất phác và nghèo như các thôn nữ miền quê khác. Cái nghèo không thể khuất phục được một tâm hồn chất đầy lời tạ ơn Thiên Chúa. Có cả ngàn lư do để tạ ơn Chúa trong cuộc đời của Đức Maria, và trong kho tàng ân sủng ấy Đức Maria đă trở thành Lời Ngợi Khen Thiên Chúa.

Hoàn cảnh của Đức Maria từ sau tiếng “Xin Vâng”, cũng không dễ dàng ǵ khi để cho Thiên Chúa bày tỏ quyền năng của Người. Bất lợi và nhiều đau khổ nhưng vẫn không làm người cúi đầu. Điều đặc biệt trong tư thế đón nhận mà Đức Maria đă đón nhận “tất cả là hồng ân”. Thấy được Hồng Ân mới thấy được quyền năng của Thiên Chúa và từ ấy nhận ra cuộc đời đầy ân phúc của ḿnh.

Đă là người, ai cũng là những người nghèo khó, nghèo khó đủ mặt trong cuộc sống, nhưng được vươn cao đến vô hạn nhờ ḷng yêu thương của Thiên Chúa. Tại sao không thấy được điều Đức Maria đă thấy: “Người đoái thương nh́n tới; từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc”. Đây có lẽ phải là h́nh ảnh của người nữ mẫu gương cho mọi người nữ đang đấu tranh cho phẩm giá của ḿnh.

Tại sao lại có thể tự ty mặc cảm trước hồng ân của Thiên Chúa? bởi v́ nh́n mà không thấy, nghe mà không hiểu, ḷng trí đă trở nên lu mờ theo những tính toán ích kỷ. Đức Maria nhận ra ḿnh là nữ tỳ của Thiên Chúa, nhưng đây là một nữ tỳ chỉ một phận nhỏ được Thiên Chúa đoái thương. Người nhận ra được Thiên Chúa đoái thương là người ngẩng cao đầu cất tiếng ngợi khen: “Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa” thay cho mặc cảm, tự ty. Lời tán dương ấy, tại sao lại không cất lên được trong cuộc sống đời thường của tôi? Bởi v́, tôi đă không dành thời gian để nh́n lại những ân sủng mà Thiên Chúa đă ban cho tôi. Nếu nh́n thấy cánh tay uy quyền của Thiên Chúa thực hiện trong thân phận đầy giới hạn và nghèo túng của tôi th́ với nhăn quan ấy tôi đă khám phá ra cuộc đời “Đầy ơn phúc” của tôi.

Những lời tạ ơn trong cuộc sống vẫn cứ như ch́m mất trong thái độ cầu xin, phạt tạ, đền tội của tôi. Tại sao lại cúi mặt trước Thiên Chúa? Tại sao tôi không sống đúng với tư thế của người con mà cứ sống thái độ ăn xin nơi ân phúc của Cha?

Tại sao tôi chỉ có biết xin mà chưa biết dùng ân huệ của Người trong cuộc sống của tôi? Một điều đơn giản tôi khám phá ra v́ thiếu lời tạ ơn. Thiếu lời tạ ơn, cho nên, dù tôi có nhận được ân sủng từ nơi Thiên Chúa tôi vẫn là những con người chôn giấu những nén bạc. Ân sủng được trao ban là để sinh hoa kết trái và từ hoa trái ấy nên lời tạ ơn trong cuộc sống. Thiếu lời tạ ơn nên cuộc sống vẫn đầy những u mê và tính toán, ích kỷ và kiêu căng, tội ác và bóng tối. Thiếu lời tạ ơn nên cuộc sống của tôi vẫn là cuộc sống người ăn xin trong nhà Cha. Lời tạ ơn làm nên thái độ sống xứng đáng của con người. Thiên Chúa được vinh Danh nơi những con người sống và biết sống xứng đáng là một con người.

Lời tạ ơn làm nên sức năng động: Đức Maria, trong lời tán dương, tôi đă thấy Mẹ là người năng động và rất năng động trong ân sủng của Thiên Chúa. Mẹ là người không chịu khuất phục dưới những đè nặng của khó khăn: Khi biết người chị em của ḿnh đă mang thai, Đức maia đă vội vă lên đường đi tới vùng sơn cước. Khi trở về Nazareth hai ông bà nhận ra thiếu người con là Giêsu, hai ông bà đă vội vă trở lại Giêrusalem. Khi bàn tiệc cưới hết rượu, Đức Maria đă nói với Đức Giêsu “Họ hết rượu rồi” và nói với những người giúp việc “Ngài bảo ǵ, cứ làm theo”. Khi nghe người ta nói về con ḿnh mất trí, Đức Maria vội đi t́m kiếm con để rồi thấy rằng sự mất trí ấy cũng giống như Mẹ là để cuộc đời này thực hành theo Ư muốn của Chúa Cha. Khi đứng dưới chân Thập Giá, Đức Maria đă biết rằng “mọi sự đă hoàn tất”. Cuộc đời đâu thiếu những sóng gió, nhưng những sóng gió đấy lại b́nh an trong lời tạ ơn, như Đức Maria đă đắm ch́m trong Lời tạ ơn của những ngày Phục Sinh.

Cuộc đời tôi tất nhiên là không tránh khỏi những lúc đen tối, thử thách, gian nan, nhưng điều quan trọng, tôi hăy học cùng với Đức Maria sống cuộc sống này là cuộc đời “Đầy ân Phúc” mà Đức Maria đă sống trong Lời tạ ơn: “Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa …”.

Biến cuộc đời này thành lời tạ ơn, tôi nhận thấy rằng: Ngay cả những lúc thống hối nhất, giữa những lúc mây đen bao phủ dữ dằn nhất, vẫn là những lúc để Vinh Danh Thiên Chúa được hiển trị nhất trong tâm hồn con người biết tạ ơn.

Hăy tạ ơn và hăy làm cho cuộc đời này trở thành “Đầy ân Phúc” nhất, tôi tin rằng cuộc sống con người sẽ trở thành bất tử ngay cả khi c̣n dưới thế và Lời Xin cho Danh Cha được hiển trị thành sự thật.

Và cuối cùng tôi vẫn tin rằng: Cả hồn và xác Mẹ lên trời là bảo đảm cho cuộc đời nỗ lực làm cho cuộc sống đầy ân sủng này sinh hoa kết trái và trở thành Lời tạ ơn Thiên Chúa trong cuộc sống của tôi.