Lễ hội

 

 

Tin rằng chết không phải là hết cho nên nảy sinh những lễ và hội để tưởng nhớ người chết. Việc chuyển những nhu cầu của người sống cần dùng cho người chết làm nên những việc cúng tế. Lễ Vu Lan cũng bắt nguồn từ tâm thức đó. Như vậy, trong đời sống tâm linh cũng chuyển hoá, phát triển hơn về những h́nh thức lễ hội. Nguyễn Du có viết: “Thanh minh trong tiết tháng ba. Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh”.

Một h́nh thức tâm linh khác cũng được lưu chuyển cho con cháu đang sống đương thời là tinh thần chia sẻ, an ủi những người đă khuất, đồng thời cũng được những người chết cầu bầu cho mà người ta thường gọi là “âm phù”, nghĩa là người chết phù trợ cho người sống. Mối liên hệ giữa người sống và người chết h́nh thành nên một lối sống cộng đồng mà người ta gọi thường là đại gia đ́nh, một đại gia đ́nh như thế thường có một “tông đường”. Lần lượt kẻ trước người sau, đều vượt qua ngưỡng cửa của sự chết ấy, rối lại sống chung trong một mái nhà mà đất làm mẹ. Người Việt có lẽ là một dân tộc thấy sống và chết gần kề nhau nhất, cho nên mang một cách sống: “sống gửi, thác về”. sống th́ gửi thân xác này cho dương thế, thác th́ gửi xác này về cho đất mẹ. Người sống sánh với đất là dương, sánh người với trời là âm. Dương thế nếu so sánh với trời là âm, âm rồi lại trở về âm (đất mẹ). Từ cách sống ấy, người Việt sống không quan trọng lắm về h́nh thức mà sống chủ yếu dựa vào t́nh thương: “Bầu ơi, thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống mà chung một giàn”. Mối liên hệ giữa người sống và người chết làm nên mối quan hệ mật thiết giữa những người sống với nhau. Đó là bài học luân lư của đời sống cộng đồng.

Joshkimt