Trái tim hiến
tế.
H́nh ảnh con chim Pélican của Alfred de Vingy,
khi con đói, cha t́m mồi mỏi cánh không ra, trở
về rỗng không, v́ thương con, cha tự mổ
bụng để con rút thịt ḿnh ra ăn. Đó là cách
thức biểu hiện đức hy sinh của người
Phương Tây có vẻ khốc liệt hơn người
Phương Đông.
1. Người Phương Đông, đặc
biệt là ở Việt
Tre già, như càng già dặn thêm t́nh thương,
tre già không c̣n vươn cành lá nhưng rủ xuống
đời con, gạt cho con những khoảng trời để
chan chứa ánh sáng. Con vươn lên khoảng trời
tự do trong sự hy sinh của đời cha. Là người
cha, đâu hẳn lúc nào cũng có thể nói t́nh thương
của ḿnh dành cho con, cứ nh́n dáng cha như càng ngày càng
kḥm xuống là thấy đời con đang lớn lên
nhờ những công lao của cha.
T́nh tre già, như càng ngày càng khô đi cho măng
tràn sự sống. T́nh yêu của người cha cũng dường
như càng ngày càng muốn kín hết sức ḿnh để
vun trồng cho con. Sự hao gầy của năm tháng, không
chỉ là hao gầy bởi năm tháng nhưng hao gầy hơn
khi con ṿi vĩnh, đua chen với cuộc sống. Người
con đâu thể biết sự chen đua kia là sự hao
gầy của cha. Nhưng dường như sự đời
vẫn đền đắp cho tre già, càng hy sinh cho măng
mọc, tre già càng thêm những nét đẹp, cái đẹp
tự tại ḷng thể hiện những vân nét bên ngoài.
Như một định lư của đời sống
đời cha càng hy sinh cho con, t́nh cha càng toát ra vẻ
đẹp bên ngoài và con thấy niềm kính trọng
tự nơi con dành cho cha.
T́nh người cha như tre già nhưng không
thiếu đời hiến tế. Khi cha từ khước
những cuộc vui là cha cho con một khoảnh trời
xanh mát, khi cha từ khước những càm dỗ là
đời cha đang cho con tấm ḷng đổ rỗng.
Khi cha chấp nhận rủ bóng là che cho con những
nắng cùng mưa. Có một t́nh yêu không khốc liệt
như t́nh cha con của con chim Pélican, nhưng t́nh tre già măng
mọc cũng cho con một đời hạnh phúc. Và
hạnh phúc nào không do sự hy sinh của cha mẹ góp
về cho con.
Đời cha một ngày kia, giống như
tre già chấp nhận cho người đốn chặt,
đời người cha một ngày kia cũng chấp
nhận cho đời nằm xuống. Sự hy sinh cao
cả của cha là cho con đi vào vĩnh cửu. Tre già
chấp nhận chịu sự đốn chặt để
trở nên chất liệu làm lợi ích cho đời
sống con người. Sự ra đi của cha cũng
chấp nhận nên hiến tế cho đời con
được hiến thánh. Có sự thánh thiện nào mà
không bắt đầu học từ người cha. Có
đời cha tre già và có đời con măng mọc.
2. T́nh mẹ:
Người ta thường sánh ví t́nh yêu
của mẹ “Như xôi nếp một, như đường
mía lau”.
Xôi nếp một là loại xôi hạng
nhất, t́nh thương cho con cũng là t́nh thương
loại nhất. Để có loại xôi nếp một, người
ta đă phải bắt đầu từ ngày lựa chon lúa
giống, được gieo vào thửa đất đă cày
sâu cuốc bẫm, thấm đẫm mồ hôi, cực
nhọc. Nếp không chỉ ngon bởi hạt giống mà
c̣n ngon bởi trong sự lớn lên của lúa, có giọt
mồ hôi, có sự cần lao của người đổ
xuống. T́nh yêu của mẹ cũng là một thứ t́nh
như thế, việc lớn lên của con, nếu không có
mẹ, cuộc đời cũng sẽ hao gầy như lúa
c̣i chẳng cho bông. Chính sự hy sinh của mẹ mà
những dấu chân chim hằn ghi trên mắt mẹ. Nên xôi
nếp một cũng là thứ xôi cực khổ một
đời mẹ nuôi con. T́nh người mẹ không
ồn ào như cánh chim Pélican vỗ cánh, nhưng lại
mang nét thân c̣ lặn lội bờ sông; không tung cánh trên
bầu trời nhưng lại mang nét “cá chuối
chết đuối v́ con”.
Thầm lặng mà khó phai, âm thầm mà ḷng
nổi sóng. T́nh yêu người mẹ “ngọt và thanh như
đường mía lau”. Cho con mà không giữ lại cho ḿnh
chút ǵ. Người ta vắt nước đường
hết từ cây mía, thân mía chỉ c̣n xác ve. Cuộc
đời người mẹ cũng thế chắt chiu cho
con tháng ngày sống hạnh phúc đời mẹ lại
hao gầy. Sự hao gầy xác ve để cuộc đời
con nếm vị ngọt. Phải chăng đó chẳng là
hiến tế, phải chăng đó chẳng là giá
trị hiến thánh.
Ngày xưa, khi con c̣n bé, mẹ là người
dạy con biết Chúa, đọc kinh, làm dấu. Khi con
lớn lên mải mê, mẹ lại là người thường
xuyên ở Nhà Thờ hơn ở nhà. Cuộc đời
mẹ, đang hao gầy đi để cho con vị
ngọt. Và mẹ bao giờ cũng thế, cho con sự
sống trong thân xác và cũng cho con sự sống tâm
hồn.
3.
Cụ Phan Bội Châu có lần nói: “Tôi
biết năm ba chữ dạy lại cho lũ trẻ”.
Người thầy Việt
Sở dĩ đất Việt xưa bị
trị mà không bị thuộc là nhờ những ông
thầy chấp nhận lui vào bóng tối, tách khỏi ṿng
nhân sinh mà lấy chí
truyền cho các học tṛ của ḿnh nơi làng quê tĩnh
mặc ấy, mong gầy dựng tương lai. Phan
Bội Châu về ở túp lều tranh dạy cho lũ
trẻ năm ba chữ chỉ “để sau này chúng
biết khấn ông bà, ông vải”, đủ thấy
một tinh thần yêu nước cảm động đến
chừng nào. Trong các cố Tây ngày xưa khi đến
đất An Nam, đều nhận ra rằng người
An Nam là người hiếu học, dễ mến hơn
nhiều dân tộc khác, là bởi tinh thần người
thầy xưa đă truyền cho.
Lũ trẻ xưa ngày ngày học năm ba
chữ, nhưng học cả hồn dân tộc. Nếu nói
yêu quê hương là học yêu lấy tổ tiên th́ cũng
đúng lắm, có sai đâu bao giờ. Người
thầy xưa chấp nhận sự nghèo khó, vui đời
thanh bạch, nên trong suy nghĩ của người Việt
xưa rất trọng người thầy, “bán tự vi
sư, nhất tự vi sư”. Nho giáo ngày xưa, thầy
đứng vào bậc thứ hai trong tam cương: Quân, sư,
phụ, người thầy được coi trọng hơn
người cha, bởi v́ thầy là cha đẻ của tâm
hồn.
Đối với người thầy hết
ḿnh v́ học tṛ như vậy, làm sao học tṛ lại
không yêu kính Thầy, ngày lễ tết ǵ, tṛ đều
báo ân thầy. Khi thầy mất th́ giỗ, đạo
hiếu đễ là vậy, học để yêu lấy
thầy. Yêu lấy thầy là yêu dân tộc, khai sáng
chất liệu tinh tuư của dân tộc.
Khảo cứu về Văn Miếu tác
giả Đỗ Văn Ninh viết: “Văn Miếu
được lập ở Hà Nội, bấy giờ là Thăng
Long, năm 1070, cách đây hơn 9 thế kỷ.
Sự việc đó phải chăng báo
hiệu sự thâm nhập của Nho Giáo nước ta? Không.
Sự thâm nhập nay chỉ xảy ra bốn thế
kỷ sau, từ thời Lê Thánh Tông. Năm 1070, triều Lư
vẫn “tam giáo đồng tôn” và đạo Phật –
trong ba đạo Phật, Lăo, Nho -
c̣n giữ nguyên ưu thế tuyệt đối.
Ư nghĩa chính trị của việc lập Văn
Miếu được Đại Việt sử Kư Toàn Thư
nêu rơ bằng một chi tiết cụ thể “…Hoàng thái
Tử đến đấy học”.
Như vậy, ngay từ ngày đầu xây
dựng, Văn Miếu Hà Nội đă có thêm chức năng
một nhà Quốc học, khác với Văn Miếu
của các nước khác như Trung Quốc, Triều Tiên,
chỉ là nơi thờ cúng các vị tổ đạo
Nho.
Năm 1076, vua Lư Nhân Tông thành lập Quốc
Tử Giám bên cạnh Văn Miếu. Nhà quốc học chính
thức của lịch sử giáo dục Việt
Hơn là một bước tiến của
Đạo Khổng, việc lập Văn Miếu –
Quốc Tử Giám đánh dấu một bước phát
triển mới của giáo dục. Tác dụng cho tầng
lớp trên trước hết, nhưng một số
học sinh ưu tú trong dân gian cũng được
tuyển vào học ở đó.
Ư nghĩa của việc thành lập Văn
Miếu năm 1070 và Quốc Tử giám 1076 không đóng
khung trong địa hạt văn hoá. Trong nhân dân vừa dành
được quyền tự chủ sau hơn 1000 năm
đô hộ, đang dâng lên một sức sống phi thường,
ư thức giữ ǵn và củng cố độc lập,
khẳng định bản lĩnh, là tư tưởng
chủ đạo của mọi hoạt động tổ
chức, quân sự, văn hoá, đều hướng
đến phục vụ sự nghiệp tự cường
của dân tộc. Năm 968, họ Đinh xưng Đế;
năm 1010 họ Lư định đô nơi “rồng” báo
lành. Năm 1072, trước binh hùng tướng mạnh
Bắc Triều, Lư Thường Kiệt cho “thần” ngâm
lẫy lừng sông Như Nguyệt: “
Theo chiều dài văn hoá của dân tộc
cho thấy, người Việt học không chỉ là
lấy kiến thức nhưng c̣n cho sự tồn vong
của dân tộc. Và cũng không riêng ǵ những ông
thầy dạy văn hoá mới được kính
trọng mà ngay cả những ông thầy truyền cho
một nghề nào nữa cũng được yêu kính như
vậy, không kém. Phải chăng đây cũng là một
folklore nữa của dân tộc đang dần dần
bị mờ nhạt đi trong ư thức người
trẻ hôm nay, khi học tṛ đem dao chém thầy.
Sự sánh ví của người Việt
Tôi tin rằng sự hiến tế trên con tim
thương tích của Chúa Giêsu, có giọt mồ hôi, nước
mắt, có những lời kinh, lời dạy, có những
hy sinh của ba tôi, của mẹ tôi, của thầy tôi và
của anh chị em tôi đang góp phần trong cuộc
khổ nạn của Chúa. Và tôi tin rằng những giá
trị ấy đang ươm mầm cứu rỗi trong
cuộc đời tôi.
Xin tri ân Chúa đă thương con và tất cả mọi người đang góp phần đời ḿnh trong công tŕnh cứu độ của Thiên Chúa.
Tân Hoà Ngày Lễ Trái Tim Đức Mẹ.
Lm Giuse Ḥang Kim Toan