H́nh Tṛn:

 Tṛn: H́nh tṛn trước tiên là một điểm ḥan hảo, trải rộng. Một điểm thuần nhất không có phân chia, một chu kỳ nối tiếp luân chuyển. Đây là loại h́nh ṭan vẹn, được nhiều nền văn hóa lấy làm biểu tượng cho nhiều khía cạnh.

1. Ṿng tṛn quan niệm chu kỳ thời gian:

H́nh Tṛn biểu tượng sự khai nguyên, nếu xét theo thứ bậc trong sáng tạo. Là một chu kỳ không thay đổi, biến dạng nếu là biểu tượng thời gian. Quan niệm Đông Phương là chu kỳ thời gian không khởi đầu cũng không có tận cùng, biểu tượng sự sinh hóa không ngừng với nguyên lư: “Sinh rồi lại sinh” qua bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông, thời gian nối tiếp thời gian. Ṿng tṛn khép kín không thay đổi, không biến dạng nên thường gây nhàm chán, “không có ǵ mới trên trái đất này”, mang theo cảm nghĩ: “Một ngày như mọi ngày”, sáng tạo dừng chân tại chỗ hoặc thay đổi theo chu kỳ: “hết thăng rồi trầm”. Những thăng trầm giam hăm nên con người lúc nào cũng mong t́m ra lối giải thoát. Giải thóat ấy có lẽ là nên chấp nhận thêm một quan niệm đường thẳng, có chiều đi lên của Kitô giáo. Đó là một h́nh thức rửa tội cho một quan niệm khép kín, đó cũng là con đường giải thoát cho ṿng sinh tử: Sinh rồi lại sinh, nhưng sinh lần sau vượt xa lần trước.

Ṿng tṛn biểu thị thời gian bằng h́nh bánh xe quay. Người Babylon dùng h́nh tṛn để phân chia thời gian, họ chi ṿng tṛn ấy ra thành 360 độ, sắp xếp thành 6 phần, mỗi phần 60 độ. Người da đỏ ở Bắc Mỹ cũng thế lấy h́nh tṛn biểu thị thời gian: Các ṿng tṛn bên trên thế giới là thời gian ban ngày, thời gian của đêm và các kỳ trăng, c̣n thời gian năm là ṿng tṛn bao quanh thế giới. Từ h́nh tṛn kết hợp với ư niệm thời gian làm nên h́nh bánh xe quay, h́nh bánh xe quay làm liên tưởng tới chu kỳ, những chu kỳ liên tiếp ứng với giai đọan thời gian, biểu hiện sự tái khởi liên tục. Thánh Augustin định nghĩa về thời gian là: h́nh ảnh động của vĩnh hằng bất động. Giải thích nào rồi cũng một ṿng tṛn mang tính chu kỳ của bánh xe quay mang tính đơn điệu, vây hăm, người ta đă chế tạo ra mặt đồng hồ h́nh vuông để muốn làm chủ thời gian, tạo nên ảo tưởng để thoát khỏi ṿng chu kỳ, thế nhưng, không biến nghĩa được chiều chuyển động của thời gian.

Trong nôn ngữ cũng như trong nhận thức, thời gian có tính chất hữu hạn, là điểm phân chia giữa hữu hạn và vô hạn, là sự phân biệt giữa thế trần và vĩnh hằng. Người Ailen có một kinh nghiệm rằng: “một người nào đó bước sang Sid (một thế giới khác) hoặc bắt được liên lạc với người nào ở Sid. họ tưởng rằng chỉ vắng mặt ở cơi trần chỉ vài ngày, thế nhưng, khi trở về trần họ đă qua mấy thế hệ hoặc hơn thế kỷ, và như thế khi trở về Ailen, họ đă thấy ḿnh đă quá già và lăn ngay ra chết. Cũng thế, quan niệm này được nhắc đến trong Thư thứ 2 của Thánh phêrô, chương 3, câu 8:Anh em thân mến, một điều duy nhất, xin anh em đừng quên: đối với Chúa, một ngày ví thể ngàn năm, ngàn năm cũng tựa một ngày”. Để tránh hiện tượng này, người Ailen tránh tiếp xúc với người Sid, ở các nền văn hóa, người ta tổ chức những lễ hội để thóat ṿng thời gian. Thóat ṿng thời gioan chỉ là nhất thời và thực tế con người vẫn phải trở về với không gian và thời gian ḿnh đang sống. Cần có một bổ sung khác.

Ở đây không nên đứng ở đỉnh núi tư tưởng Đông Phương hay Tây Phương để tự măn những thành tựu mà nên đón nhận một cái khác để hài ḥa vuông tṛn. Giống như cấu trúc cơ thể con người luôn có cấu trúc song đôi bổ túc: có phải và có trái, có trái tim cũng có lư trí, có bộ năo  và bao tử… Những cặp đôi bổ sung ḥan thiện. Cái khác ấy là quan niệm của Kitô giáo về thời gian bổ sung cho quan niệm chu kỳ về thời gian của Đông Phương:

Đối với quan niệm của Kitô giáo, thời gian không biểu thị bằng ṿng tṛn mà là đường thẳng có mũi tên đi lên, mỗi ngày, mỗi thời gian qua là một sáng tạo mới, sáng tạo mới có chiều hướng đi lên: Trong kinh nguyện Kitô giáo, sau bài đọc 1, nói về công tŕnh sáng tạo của Thiên Chúa, trong ngày lể Vọng Phục Sinh, Lời nguyện ấy xác quyết một niềm tin rằng: “Công tŕnh tạo thành vũ trụ ban đầu tuy đă kỳ diệu, nhưng công tŕnh cứu độ của Đức Kitô; Đấng hy sinh làm Chiên Vượt Qua của chúng con trong thời sau hết c̣n kỳ diệu hơn nữa”. Như vậy,  không ǵ có thể cản trở được hay làm hủy hoại công tŕnh sáng tạo tự ban đầu ấy được, ngay cả tội lỗi cũng là một duyên cớ để tiến tŕnh đi lên mănh liệt hơn: Thánh Lêo Cả  nói  rằng: “Ân sủng khôn tả của Đức Kitô, đem lại cho ta những ǵ tốt đẹp hơn những ǵ mà ma quỷ do ḷng ghen ghét đă cướp mất”. Cũng trong ư hướng đó, Thánh Thomas d’ Aquine viết: “sau khi con người phạm tội, không có ǵ ngăn cản bản tính loài người được hướng về một cứu cánh cao đẹp hơn”. Động lực cho chiều đi lên ấy do Một Đấng là chủ thể của thời gian, Người là Đấng siêu việt vượt trên thời gian, là mốc căn nguyên của thời gian, mỗi thời gian được nới dài thêm ra là mỗi thời gian được Người sáng tạo và bảo tồn cho đến khi ḥan tất nơi cùng đích của thời gian cũng là chính Người. Đó là Thiên Chúa làm chủ thời gian là Alpha và là Omêga. Là khởi đầu cũng là cùng đích của lịch sử đi lên, hướng về Thiên Chúa.

Quan niệm thời gian của Kitô giáo giải thoát quan niệm ṿng tṛn thời gian của Đông Phương. Mỗi chu kỳ vận hành là một chu kỳ mới, mới ḥan toàn vượt xa cái tuần ḥan cũ, là một đường thẳng có chiều đi lên, không c̣n trong vỏ bọc khép kín. Đường thẳng đi lên nói lên điều cơ bản, con người sinh ra để sống và sống dồi dào, chứ không phải để chết. Cái mới là cái làm cho con người say mê và vui thích, hăy đón nhận Thiên Chúa, là Đấng làm nên những cái mới và những cái mới đầy những bất ngờ của t́nh thương.

2.  H́nh Tṛn biểu trưng cho Trời:

H́nh tṛn biểu trưng cho bầu trời sánh với vuông biểu trưng cho Đất. Bản thân của bầu trời là h́nh tṛn, biểu thị cho sự họat động của trời, tính ḥa hợp và năng động của bầu trời với vũ trụ. H́nh tṛn mang tính mẫu mực, chở che, bảo tồn. H́nh tṛn trong tự nhiên c̣n thấy ngoài bầu trời như một trái cây rơi giữa hồ nước làm nên những ṿng tṛn đồng tâm, thân cây khi cắt ngang.

Niềm tin vào thần Mặt Trời dường như là phổ quát, con người tin rằng Trời là Vị Thần Linh Tối Cao, Trời lam nên vũ trụ sinh linh, coi sóc và bảo tŕ vạn vật. Trời biểu hiện cho quyền năng tối thượng, siêu tại, vĩnh hằng, không bao giờ vạn vật dưới đất này chạm đến được.. Trời ]uy quyền chăm sóc vạn vật là Thần của các vị đế vương ở dưới đất, các Pharaô thờ thần Mặt Trời trên đỉnh Kim Tự Tháp, các ông vua Việt Nam có nhiệm vụ tế Trời thay cho dân ở tế đàn Nam Giao. Tại Trung Quốc, Ḥang                        Đế được gọi là thiên tử. Các ông vua dù hủ bại hay là bậc thánh đều là con của trời. Theo thứ bậc của Trời, ḥang đế là người thay trời cai quản dưới đất, một uy quyền bất khả xâm phạm, thế nhưng cũng chỉ tương đối v́ bao lần lịch sử cũng chứng minh việc thay vua đổi chúa.

Trời không chỉ cơi mung lung, tiến xa hơn, Trời c̣n là một chủ vị. Người Việt Nam gọi Trời có khi là Bà Thiên sau này c̣n gọi là Ông Trời. Gắn liền với tâm thức Mẫu, người Việt gọi Trời là Bà Thiên. Bà Thiên, một cụm từ để gọi cách gần gũi, thực tế đối với tâm thức người Việt, Trời không xa cách nhân, Trời là bà mẹ luôn bênh đỡ nhân, bởi v́ Trời sinh nên Trời dưỡng. Phôi thai của Bà Thiên là mang chức năng của Bà Mẹ, Bà Mẹ lúc nào cũng ở gần con hơn cha, như có nhà văn viết: “Bà mẹ vuông sân chái bếp, gần con hơn cha, mẹ là tiên hiền cha như là Lasát”. Tâm thức gần mẹ hơn cha chứng tỏ nhiều điều thuộc căn tính dân Việt: “dĩ ḥa vi quư”, “trọng đức hơn trọng tài”, “Gà cùng một mẹ, chớ hoài đá nhau”… Từ những căn tính ấy, người Việt tin rằng “Mẹ th́ bao dung, cha th́ nghiêm khắc”, xu thế gần mẹ hơn cha là thế. Xu thế này giảm dần đi nhưng không bị quyền người cha lấn át hẳn, từ khi du nhập tính phụ quyền từ láng giềng lân cận. Người Việt chuyển sang từ ngữ gọi Trời bằng “Ông”, Ông ở đất Việt mang dáng dấp của ông ngoại nhiều hơn ông nội. Ta thử nghe những câu kêu trời của dân Việt th́ rơ: “Trời soi xét”, “Trời làm khổ cực hại dân. Trời làm mất mát có phần nào chăng?”, trước những viễn cảnh thiên tai, người dân quê Việt đă chẳng kêu trách mà chỉ như gọi ông ngoại thấu t́nh con cháu giúp cho vượt qua khốn khó. Nói cha là Lasát th́ có phần qúa lời, thật ra cha mang nhiều nét mẹ hiền hơn thế nhiều, Ta cứ nghe người Việt nhắc nhau: “Tháng ba giỗ mẹ, tháng Tám giỗ cha”, th́ thấy nao nao ở đó tâm t́nh dành cho cha: “cha là non trí, mẹ là non nhân”, mà trí không hẳn mười phân mà trong đó: “chín lư thua một t́nh”, nên mới có cách xử thể “Lấy chín bỏ làm mười”.  

Quan niệm về Bà Thiên – Ông Trời, trong cấp độ b́nh dân th́ hẳn cũng chưa phải là ḥan ṭan vượt trên thế nhân. Người b́nh dân c̣n khóac cho Bà Thiên – Ông Trời những t́nh cảm giống như người thế, biết yêu, biết ghét, như ta nghe Trời báo óan, Trời nổi giận… Quan niệm b́nh dân này cũng thấy nhiều ở các nền văn hóa khác.

Đi t́m một quan niệm đúng cho vấn đề này, nếu nh́n dưới góc cạnh của niềm tin, ta cũng nhận ra rằng có một sự tiệm tiến rơ nét hơn về Ông Trời, ngày xa xưa khi con người chưa hiểu hết các định luật thiên nhiên, nên gán mọi sự cho Ông Trời hoặc cho các thần là sứ giả nhà Trời làm nên. Ngày nay, người ta có kêu Trời cũng là tin rằng, Trời là một vị vương quân không tây vị ai, Trời là người cầm cân nảy mực, phạt những kẻ ác, ban phước lành cho kẻ ḷng ngay. Trời chứng giám, Trời là nguyên lư để làm sự thiện, sống điều ngay… Hiểu nghĩa về Trời như thế, nhân loại đă đi lên một bước rất xa sánh với thời tiền sử, một nhân loại đă ư thức: Trời là một biểu hiện trực tiếp của một cơi siêu tại, ở đó đầy tràn uy quyền, không bao giờ tan biến, cốt lơi của cơi thiêng, không có một thọ tạo nào có thể nắm bắt được. Trời v́ thế là cơi vô biên, không thể hiểu hết, chỉ có đem ḷng sùng kính. Bởi đó có bàn thờ Bà Thiên có bàn thờ Thiên mà mỗi buổi sớm tinh sương ngào ngạt khói hương của ḷng thành kính.

3. Trời – Chúa Trời.

Trời có một chủ vị mà người Athène gọi là Đâng Vô Danh, Thánh Phaolô đă thuyết giảng hùng hồn về Đấng Vô Danh ấy là Thiên Chúa: “Đứng giữa Hội đồng A-rê-ô-pa-gô, ông Phao-lô nói: "Thưa quư vị người A-thê-na, tôi thấy rằng, về mọi mặt, quư vị là người sùng đạo hơn ai hết. Thật vậy, khi rảo qua thành phố và nh́n lên những nơi thờ phượng của quư vị, tôi đă thấy có cả một bàn thờ, trên đó khắc chữ: "Kính thần vô danh". Vậy Đấng quư vị không biết mà vẫn tôn thờ, th́ tôi xin rao giảng cho quư vị.

 "Thiên Chúa, Đấng tạo thành vũ trụ và muôn loài trong đó, Đấng làm Chúa Tể trời đất, không ngự trong những đền do tay con người làm nên. Người cũng không cần được bàn tay con người phục vụ, như thể Người thiếu thốn cái ǵ, v́ Người ban cho mọi loài sự sống, hơi thở và mọi sự. Từ một người duy nhất, Thiên Chúa đă tạo thành toàn thể nhân loại, để họ ở trên khắp mặt đất; Người đă vạch ra những thời kỳ nhất định và những ranh giới cho nơi ở của họ. Như vậy là để họ t́m kiếm Thiên Chúa; may ra họ ḍ dẫm mà t́m thấy Người, tuy rằng thực sự Người không ở xa mỗi người chúng ta. Thật vậy, chính ở nơi Người mà chúng ta sống, cử động, và hiện hữu, như một số thi sĩ của quư vị đă nói: "Chúng ta cũng thuộc ḍng giống của Người”  (Cv 17, 23 -26).

Trời ấy, không phải là bầu trời thể lư, không phải là Đất. Trời biểu thị ngai vàng Thiên Chúa ngự; Trời ấy, Thiên Chúa là Chúa của Trời cao. Trong bản dịch LXX, dịch trời ở số nhiều chỉ bầu trời nơi Chúa ngự, trong Tân Ước Trời chỉ về Nước Trời hay Nước Thiên Chúa.

Chúa của Trời cao: Tư tưởng này h́nh thành trong Cựu Ước, Môisê đă không được mạc khải chính Danh mà chỉ được cho biết Danh Giavê: “Đấng Tự Hữu”, “Ta là Đấng Ta là”; các tổ phụ và các tiên tri đă không dám gọi đích Danh mà gọi trại đi là Chúa, Đức Chúa, dần dần trong truyền thống Do Thái, khi giao lưu với văn hóa khác, họ gọi là Chúa Trời thông dụng trong thời đại Ba Tư: “Trời canh giữ chúng ta, không cho từ bỏ giới luật và những điều phải giữ” (1M 2, 21)[1]. Sau đó một thời gian, một tác giả được thánh hóa cũng quy cho trời những mối quan tâm đặc biệt của Giavê (2M 2, 21).

 Chúa Trời: Thuật ngữ được cha Matteo Ricci (1552 – 1610) dùng đầu tiên trong cuốn “Thiên Chủ Thực nghĩa” - Đức Chúa Trời được cha Alexandre de Rhodes, áp dụng từ phạm trù thiên của Trung Hoa, cũng như phạm trù ông Trời của Việt Nam để gọi về Chúa cho người Việt Nam. Theo Hán tự, chữ Thiên biểu thị điều linh thiêng con người đội trên đầu ḿnh. Đó là sự bao la không ḍ thấu, là những nguyên lư chi phối các tiết điệu trong vũ trụ, là nơi đầy tràn ánh sáng.  Trời siêu việt ấy bảo đảm cho nhân (con người), để con người được sống và sống dồi dào. Trời ở rất xa và cũng rất gần với nhân: “Không có Trời ai ở với ai”.

Lm Giuse Ḥang Kim Toan



[1] Bản văn The New Jerusalem bible, bản Standard Edition, London ,1985: “May Heaven preserve us from forsaking the Law and its observances”, với ḍng chú thích: “A common biblical expression, here, as elsewhere in the book, standing for “God”.