Màu Trắng Khăn Tang
Khi đến nghĩa trang, điều gây chú ư nhất là những ṿng khăn tang trắng trên nhiều mái đầu. Trong thâm tâm tôi tự hỏi, màu khăn tang trắng ấy có ư nghĩa ǵ khi biểu lộ niềm tin. Thắp hương kinh nguyện cầu và để tâm suy nghĩ t́m lại ư nghĩa, tôi t́m ra một vài ư nghĩa, xin được chia sẻ:
Màu Trắng được nói nhiều trong Thánh Kinh: Nó biểu hiện hai nội dung chính yếu: Màu sự chết và màu sự sống. Giữa hai ư nghĩa đó c̣n có ư nghĩa màu của bản lề giữa sự sống và sự chết.
Màu trắng là màu của nguyên thủy, và cũng là màu của tổng hợp các màu. Khởi nguyên và cùng đích mang màu trắng, màu của tinh khôi và màu của chiếc áo đă được giặt lại trong máu Chiên Con. Màu trắng trong sách Khải Huyền nói đến như chiếc ch́a khóa mở những cánh cửa huyền bí:
Màu trắng của chiếc áo ngày quang lâm:
Ngày quang lâm đầu tiên của vũ trụ là ngày Thiên Chúa dựng nên trời đất: Ngày Thiên Chúa hiện diện trong vùng Ánh sáng, ngày đầu tiên của vũ trụ. Màu trắng cũng là màu trong vùng ánh sáng: “Ngài quả là nguồn sống, nhờ ánh sáng của Ngài, chúng con được nh́n thấy ánh sáng” (Tv 36, 10). Thiên Chúa, Ngài là Ánh Sáng, Ánh sang của ngày đầu tạo dựng do chính Chúa chiếu giải vào hỗn mang và cũng chính là ánh sáng huy ḥang của ngày huy ḥang của ḥan vũ.
Màu trắng: Theo từ ngữ “candidus”, tiếng Anh là “Candidat” có nghĩa là người dự tuyển. Theo nghĩa này: Người dự tuyển hoặc ứng sinh mặc áo màu trắng: Màu trắng đối với người dự tuyển báo trước hai điều quan trọng họ sẽ mặc lấy: Chết đi nơi chính ḿnh và sống lại trong một tương quan khác, khi được cất nhắc vào trong một sứ vụ nào đó. Là màu của người dự tuyển, tức là màu của người sắp sửa thay đổi địa vị (những người dự tuyển vào các chức vụ trong công sở mũ quần áo màu trắng hay trong dịp thụ phong, khấn trong Ḍng). Theo tự nhiên, quy luật của trời - đất. Trong văn hóa, việc quy cho mỗi phương trời có một màu, khi phần lớn các dân tộc thường cho màu trắng là màu của phương Đông và màu đen là phương Tây, tức là của hai đầu mút huyền bí, nơi Mặt Trời, thiên thể của tư duy thuộc ban ngày, mọc lên và lặn đi (coi như sinh ra và chết đi) hằng ngày. Trong hai trường hợp, màu trắng coi như một giá trị bản lề, nối hai đầu mút của đường chân trời dài vô tận. Màu trắng là màu của bước chuyển, theo ý nghĩa của những nghi thức chuyển tiếp: Màu hay được dùng trong các nghi thức, qua đó con người được chuyển hóa, theo sơ đồ kinh điển của mọi lễ thụ pháp: chết đi và sống lại . Trong nhiều nghi thức Kitô giáo khác nhau của cuộc đời, con người thường dùng màu trắng để biểu hiện: Thanh Tẩy - Rước Lễ lần đầu – Thêm Sức - Thụ phong – an táng - Phục sinh.
Sử dụng màu trong tang lễ của Phương Đông và Phương Tây có biểu hiện quan niệm:
Màu trắng biểu hiện sự chết: Khăn tang sở dĩ có khăn màu Đen nhắc nhở ư nghĩa về điểm kết thúc chung cuộc. Có những đêm không có ánh trăng, đêm mang màu đen thẫm, màu của đêm tối biểu hiện sự tan ră giống như giai đọan hạt giống đang chết đi. Biểu hiện này không mang màu sắc thất vọng nhưng hướng về một ánh b́nh minh mới. Màu của đêm nghỉ ngơi dưỡng sức. Màu của thời gian cuộn chảy về phía b́nh minh. Màu đen trong chiếc áo tang lễ vừa mang vẻ huyền bí vừa đánh thức một hy vọng của ngày phía trước. Chết không là khép lại mọi hy vọng nhưng nó là giai đọan cần thiết để sinh hạ. Như hành tŕnh của đời sống con người, trước khi sinh ra, thai nhi nằm trong bụng người mẹ cưu mang, nơi ấy không có ánh sáng, chỉ có đêm đen vây phủ. Đêm đen trong cung ḷng người mẹ là đêm của thể lư, nhưng đêm của tâm thức là đêm h́nh thành từ phôi thai đền trọn vẹn h́nh hài để được sinh ra. Như vậy, ư nghĩa của Đêm không phải thời gian chết mà đêm hướng về ngày sinh hạ. Cũng thế, con người khi chết đi, khi tấm ván quan tài cuối cùng được khép lại, một màu đen che khuất mặt người lần nữa được chôn xuống đất hay qua ḷ lửa thiêu. Đây cũng biểu hiện một lần nữa cưu mang để được sinh lại. Lần sinh lại này đầy bất ngờ v́ chưa ai đă từng kinh nghiệm khi chưa qua sự chết.
Có những đêm, đêm không c̣n mặt trời nhưng đêm có ánh trăng. Ánh Trăng ban đêm mang màu trắng, màu trắng của phương Tây là màu trắng mờ của cái chết, làm tiêu tan con người và đưa về thế giới thuộc mặt trăng, lạnh lẽo và âm tính, đưa dẫn tới sự trống vắng của ban đêm, khi mà ý thức và mọi sắc màu ban ngày đều tan biến. Người Tây Phương dùng màu Đen trong tang lễ với ư nghĩa sự chết là một tan biến, màu của đêm tối, kết thúc ngày của ánh sáng nhưng vẫn c̣n mối hy vọng nhờ ánh sáng của mặt trăng. Ánh trăng mờ trắng chiếc khăn tang gợi nhớ lại thời gian nguyên thủy của ngày sắp tinh khôi, hướng về ánh sáng nên cũng trắng dần lên để rạng tỏ niềm hy vọng. Con người là một động vật vượt xa mọi tạo vật khác chính là nhờ niềm hy vọng và biết hy vọng. Không quan niệm nổi ánh sáng của một ngày mới sau cùng của ngày mới, ngày không c̣n đêm mà cũng chẳng cần ánh sáng mặt trời hay ánh trăng ban đêm. Con người xây dựng trên cơ sở đó để h́nh thành triết học và tôn giáo để t́m căn nguyên sự sống và sự chết.
Màu Trắng màu sự phục sinh: Màu trắng của phương Đông là màu của sự quay về, đó là màu trắng lúc rạng đông, khi bầu trời hiện ra, còn chưa có màu sắc. Đêm tối lùi bước dành cho ánh sáng, đêm của trăng thanh cũng là đêm ươm mầm chờ đợi b́nh minh, đêm của những thời khắc chờ đợi đón b́nh minh. Đối với người Phương Đông chết không có ǵ đáng sợ, chết là một con đường trở về, “Sống thác, tử quy”. Trở về với nguồn cội của ánh sáng và bước sang một ngày mới. Như vậy, đêm là thời gian tích lũy năng lượng, đêm là thời gian nghỉ ngơi dưỡng sức và chết là thời gian của những tich lũy ấy, người ta hay nói “về nơi an nghỉ” với những ư nghĩa đặc biệt ấy.
Hai quan niệm Đông và Tây gặp nhau ở giữa bản lề của màu trắng. Tây phương quan niệm về ánh trắng mờ đục của ánh trăng có chiều hướng từ ánh sáng ngày mặt trời huy ḥang đi xuống ánh sáng mờ đục của mặt trăng. Đông phương lấy ánh sáng b́nh minh làm biểu tượng, tiếp nối từ ánh trăng mờ đục của ánh trăng bứơc vào ánh sáng của ngày mới. Giữa hai việc quan sát tự nhiên đó, hai chiều hướng Đông Tây, giữa hai thời điểm này, bản thân hai sắc độ của màu trắng đều rỗng không, lơ lửng giữa cái có và cái không, giữa mặt trăng và mặt trời, nằm giữa hai đầu cạnh của thiêng liêng. Mặt trời mọc rồi lặn, ngày này qua ngày khác, sinh tử, tử sinh, quy tŕnh quay ṿng khiến người Đông Phương nghĩ đến ṿng bánh xe luân hồi và h́nh tượng con rắn cắn đuôi ḿnh. Người Tây Phương lấy ánh trăng ban đêm cũng nh́n vào trong vào bóng màn đêm bí mật ấy theo đường khám phá, mạo hiểm, bước xuyên qua bóng đêm đi t́m sự thật. Hai chiều kích khám phá nội tại và ngoại tại gặp nhau ở điểm giáp tuyến giữa đêm và ngày, Đông phương gọi cơi ấy là cơi vô họăc cơi sắc sắc không không, Tây Phương quan niệm chốn ấy là cơi cực lạc không c̣n đau khổ, không c̣n chết. Người Đông Phương t́m về chốn không không, người Tây Phương t́m về chốn hiện hữu vô h́nh.
Họa sĩ W. Kandinsky, đã phát biểu: “Màu trắng mà người ta thường coi là vô sắc, giống như một biểu tượng về một thế giới, trong đó mọi màu sắc, là thuộc tính của những thực thể vật chất, đều tan biến. Màu trắng, nó động đến tâm hồn chúng ta như là trạng thái yên lặng tuyệt đối ... Trạng thái yên lặng này không phải là trạng thái chết mà chứa chan những khả năng sống động... Đó là dạng hư vô chứa đầy niềm vui trẻ trung, một dạng hư vô đi trước mọi sự đời, trước mọi cuộc khởi thủy. Có lẽ vào những ngày trong thời kỳ băng hà, mặt đất trắng toát và lạnh lẽo đã âm vang lên như vậy. Thực không thể nào mô tả hay hơn nữa cảnh rạng đông, mà lại không gọi đến tên nó”.
Dịch học của Đông Phương phát biểu: Sinh rồi lại sinh, mọi vật đều sinh măi không ngừng. quy tŕnh sinh hạ này đi qua bến bờ của sự chết làm nên một quan niệm về ṿng tṛn : Sinh - Tử. Trong mọi tư duy biểu trưng, cái chết đi trước sự sống, sinh ra tức là tái sinh. Từ đó, ngay ban đầu màu trắng là màu của cảnh chết chóc, tang tóc.
Theo ý nghĩa này, nếu thuộc Phương Đông thì màu trắng không phải màu của mặt trời. Đó không phải là màu ánh bình minh mà là màu lúc tảng sáng, ở thời điểm hoàn toàn trống rỗng, ở giữa đêm và ngày, khi mà thế giới giấc mơ còn bao phủ hết mọi thực tại: Con người bị ức chế, do đó, lơ lững giữa một màu trắng rỗng không bị động.
Tại châu Phi, trong nghi thức thụ pháp, các thiếu niên trong thời gian ẩn cư, là thời gian tách biệt cộng đồng xă hội, họ thường dùng màu trắng xoa khắp thân thể. Sau thời kỳ kenosis, họ trở về cộng đồng và dùng màu đỏ thay thế màu trắng, chứng minh thời kỳ thụ pháp đă măn và bước vào giai đọan trưởng thành.
Trong đạo Phật Nhật Bản, vòng hào quang màu trắng và bông sen trắng được gần liên với nắm tay tri thức của đức Phật Đại Giác, đối lập với màu đỏ và với động tác quán tưởng.
Màu trắng, hào quang sáng chói trên đầu các thánh nhân trong Kitô giáo, biểu thị ṿng tṛn ánh sáng tiếp nhận từ nơi Thiên Chúa, họ đă được tắm trong máu Chiên Con, và tiến bước vào trong Ánh Sáng đích thực. Vùng ánh sáng trên đầu biểu thị, họ sẽ không c̣n nhờ đến ánh sáng của mặt trời hay mặt trăng v́ chính Thiên Chúa là ánh sáng chiếu soi họ.
Cứu độ không phải là việc t́m lại thiên đường đánh mất, mà là đưa từ t́nh trạng thiên đường đánh mất về trong gia đ́nh của Thiên Chúa. Đây là một sứ điệp mới lạ của Thiên Chúa. Thiên đường thưở ban đầu là một thiên đường được những đặc ân, nhưng chưa phải là t́nh trạng cuối cùng v́ nơi đó Thiên Chúa c̣n cách xa với nhân loại, bằng chứng là: “Nghe thấy tiếng Đức Chúa là Thiên Chúa đi dạo trong vườn lúc gió thổi trong ngày, con người và vợ ḿnh trốn vào giữa cây cối trong vườn, để khỏi giáp mặt ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa” (St 3, 9). Nơi gia đ́nh của Thiên Chúa mới thực sự là thiên đường cuối cùng, con người có mặt trong gia đ́nh Thiên Chúa, nhờ Đức Kitô và trong Đức Kitô. Cứu độ không là đưa về trạng thái ban đầu mà c̣n là vượt xa mọi ước mong, Kinh Tiền Tụng c̣n nhắc đến lời tạ ơn: “Thiên Chúa đă sáng tạo nên con người cách tài t́nh Người c̣n tái tạo cách kỳ diệu hơn nữa”. Đó là bằng chứng cho thấy, từ ước mơ ḥan nguyên, trở về của nhân loại Thiên Chúa đă cho đạt đến đích ngoài ṿng ước mơ.
Giải mă cuộc biến h́nh theo chiều kích của ánh sáng Khải Huyền, chúng ta gặp thấy điều thú vị: Đức Giêsu gọi Phêrô, Giacôbê và Gioan và dẫn lên một ngọn núi cao. Và Ngài đã thay mình đổi dạng trước mắt họ, y phục trên thình ngài rực sáng một màu trắng mà không một thợ nào trên đời này có thể làm cho trắng được đến như vậy. Elia cùng với Môise hiện ra trước mặt họ và ca hai vị đã đàm đạo với Chúa.
- Elia là chủ nhân của bản nguyên sống được tượng trưng bằng lửa, người có màu đỏ (Cái chết của Elia đi vào cơi bất tử v́ ông được diễn tả tiến về sự chết bằng chiếc xa mă lửa). Trong nhăn quan của ngày quang lâm, sách Khải Huyền nhắc tới: Con chiên mở ấn[1], Các ấn mở ra những diệu kỳ của ngày mới được ló rạng: Ánh sáng như vầng lửa đỏ, báo trước một cuộc thanh luyện cần thiết: Mọi người trong nhân loại để hiện diện trong ánh sáng huy ḥang của Thiên Chúa đều trở nên trắng tinh vẹn ṭan, nhờ thời gian thanh luyện trong lửa. Trong Ánh Sáng của Thiên Chúa chúng con nh́n thấy Ánh Sáng của Ngài.
- Con ngựa trắng: Con ngựa này có dấu vết thần thoại Hy Lạp, con ngựa chở thần Apollon đi vào sự chết. Con người đi ngang qua sự chết để sinh lại trong một cuộc sinh hạ mới.
- Con ngựa xám: Màu xám của sự chết chóc, nhiều nền văn hóa dùng h́nh ảnh con ngựa xám để nói đến thời gian ḥanh hành của thần chết.
- Con tuấn mă mặt trời: Theo các nền văn hóa, quy luật đêm – ngày nối tiếp đuổi nhau, nhanh như vó chân ngựa. Con ngựa chạy qua sống và chết, chết và sống từng ngày, cuộc vượt qua cần thiết để ḥan thành những bước chạy cuối cùng vào sự sống.
Màu trắng nguyên sơ và màu trắng cùng tận là một vượt bực của màu sắc. Trong màu trắng sau khi tẩy rửa trong Máu Chiên Con, màu trắng ấy không bao giờ bị hoen ố nữa. Màu trắng không do ánh mặt trời cũng chẳng do con người làm nên, màu trắng này được Con Thiên Chúa làm và con người nhờ chiếc áo trắng ấy vào dự tiệc vui muôn đời của Ḥang Tử B́nh An.
Lm. Giuse Ḥang Kim Toan
[1] “Tôi lại thấy: khi Con Chiên mở ấn thứ nhất trong bảy ấn, th́ tôi nghe một trong bốn Con Vật hô lên, tiếng vang như sấm: "Hăy đến!" Tôi thấy: ḱa một con ngựa trắng, và người cỡi ngựa mang cung. Người ấy được tặng một triều thiên và ra đi như người thắng trận, để chiến thắng.
Khi Con Chiên mở ấn thứ hai, th́ tôi nghe Con Vật thứ hai hô: "Hăy đến! " Một con ngựa khác đi ra, đỏ như lửa, người cỡi ngựa nhận được quyền cất hoà b́nh khỏi mặt đất, để cho người ta giết nhau; người ấy được ban một thanh gươm lớn.
Khi Con Chiên mở ấn thứ ba, th́ tôi nghe Con Vật thứ ba hô:
"Hăy đến!" Tôi thấy: ḱa một con ngựa ô, và người cỡi ngựa cầm cân trong tay. Tôi lại nghe như có tiếng nói từ giữa bốn Con Vật vang lên: "Một cân lúa ḿ, một quan tiền! Ba cân lúa mạch, một quan tiền! C̣n dầu và rượu, th́ chớ đụng đến! "
Khi Con Chiên mở ấn thứ bốn, th́ tôi nghe tiếng Con Vật thứ bốn hô: "Hăy đến! " Tôi thấy: ḱa một con ngựa xanh nhạt, và người cỡi ngựa mang tên là Tử thần, có Âm phủ theo sau.
Chúng nhận được quyền hành trên một phần tư mặt đất, để giết bằng gươm giáo, đói kém, ôn dịch và thú dữ sống trên đất.
Khi Con Chiên mở ấn thứ năm, th́ tôi thấy dưới bàn thờ, linh hồn của những người đă bị giết v́ đă rao giảng Lời Thiên Chúa và đă làm chứng. Họ lớn tiếng kêu: "Lạy Chúa chí thánh và chân thật, cho đến bao giờ Ngài c̣n tŕ hoăn, không xét xử và không bắt những người sống trên mặt đất phải đền nợ máu chúng con? " Bấy giờ mỗi người trong số họ được lănh một áo trắng; và có lời phán bảo họ cứ nghỉ yên một thời gian ngắn nữa, chờ cho đủ số những người cũng là tôi tớ Thiên Chúa và là anh em của họ, sắp bị giết như họ.
Tôi thấy: khi Con Chiên mở ấn thứ sáu, có động đất mạnh. Mặt trời tối đen như vải thợ dệt bằng lông, mặt trăng hoàn toàn ra như máu. Sao trên trời sa xuống đất, tựa những trái vả xanh rụng xuống từ cây vả bị gió lớn lay mạnh. Trời bị cuốn đi như một cuốn sách cuộn lại, mọi núi non và hải đảo bị dời đi nơi khác. Vua chúa trần gian, vương hầu khanh tướng, người giàu sang, kẻ quyền thế, và mọi người, nô lệ hay tự do, tất cả đều phải trốn vào hang hốc và núi đá. Họ bảo núi và đá: "Đổ xuống đè ta đi và che giấu ta cho khuất mắt Đấng ngự trên ngai, cho khỏi cơn thịnh nộ của Con Chiên; v́ Ngày lớn lao, Ngày thịnh nộ của các Ngài đă tới, và ai có thể đứng vững được? " (Kh 6, 1- 17)