Chương 3: Những người phụ nữ

trong việc tiếp nhận và rao giảng Tin Mừng.

1.    Vài người phụ nữ điển h́nh trong việc tiếp nhận Tin Mừng.

Trong những lư do thuyết phục người Việt theo đạo cần ghi nhận điều mà cha Louis nói: “Điều đă giúp cho những cuộc trở lại này, là do đời sống tốt lành của các cha chúng con”[1]. Gương sống của các vị thừa sai đặc biệt lôi kéo những con người Việt Nam, họ cần thấy hơn thích nghe. Chính nhờ lư do đó, những ngày đầu, các vị thừa sai dù chưa thông thạo tiếng địa phương vẫn chinh phục được bằng tấm ḷng. Những người tin theo đủ mọi từng lớp trong xă hội, từ những người cùng đinh cho đến bậc quan quyền, từ những người khố rách áo ôm đến hàng quyền quư, từ kẻ chân lấm tay bùn cho đến người an nhàn hưởng lộc, ai đă từng nghe và thấy các gương sáng của các thừa sai đều được cảm hoá và đặt niềm tin vào Chúa. Trong số những người nữ có 2 nhân vật nổi bật:

Bà Minh Đức Vương Thái Phi.

Cha A. de Rhodes viết: “Tôi làm việc với cha Francois de Pina ở tỉnh Quảng Nam, nơi có một số đông lương dân chịu phép rửa tội. Từ đó, chúng tôi vào trong phủ và khi đi qua chúng tôi ở lại ít bữa ở Huế nơi có một bà hoàng, họ gần với chua và rất sùng thần ngoại, nhưng khi nghe cha Pina giảng th́ được ơn Thiên Chúa soi sáng, bà liền bỏ sai lầm và xin chịu phép rửa tội, lấy tên là Maria Madalena. Từ đó bà là điểm tựa cho giáo đoàn này. Gương của bà và thế giá của bà đă giúp rất đắc lực cho việc chinh phục lương dân và duy tŕ ḷng nhiệt thành nơi những người chịu phép rửa, tôi vẫn thường gặp bà trong suốt thời kỳ tôi ở xứ này và tin rằng bà vẫn kiên tŕ từ hai mươi tám năm trong việc thi hành các nhân đức đạo của Chúa Kitô. Trong tư dinh của bà có một nhà nguyện rất đẹp. Trong những vụ bắt bớ gắt gao nhất, nhà nguyện đó vẫn không lay chuyển, hằng ngày bà tới đó cầu nguyện và thương mở cửa để chứa chấp các đạo hữu trong tỉnh. Bà vẫn điều khiển giáo đoàn mà không ai dám phản đi. Bà c̣n dùng lời lẽ khôn ngoan khiển trách để chinh phục mấy người lương dân có thế giá, trong số đó có mấy người thuộc họ nhà chúa. Ngày nay bà vẫn là nơi trú ẩn cho hết các cha và không có giáo dân nào mà bà không giúp đỡ về hết những ǵ có thể làm được”[2].

Theo cha Nguyễn văn Trinh, Bà Minh Đức Vương Thái Phi là một người thuộc ḍng dơi hoàng tộc. Bà là người vợ cuối cùng của chúa Nguyễn Hoàng. Minh Đức Vương Thái Phi không phải là tên riêng, cũng không phải là tước hiệu chúa Nguyễn Hoàng phong cho bà khi c̣n sống, nhưng là vua Gia Long (1802 - 1820) mới truy phong cho bà sau gần 200 năm ngày bà mất[3].

Theo sử liệu cho biết, bà sinh năm 1569 và mất năm 1649 thọ 81 tuổi. Tài liệu của cha Fontes cho biết: Bà tên thật là Orancaya; được rửa tội tại Phước Yên do cha Francisco de Pina, làm ban đêm một cách lén lút dưới sự có mặt của cha Đức lộ và bà mang tên thánh là Maria. Đó là năm 1625.

Bà được gọi là Minh Đức có lẽ v́ nhiều gương sáng trong cuộc sống đức tin của bà, điểm sáng nhất là t́nh yêu tha thứ của bà:

Ông Nguyễn Phúc Khê cho đốt nhà nguyện của mẹ: “Từ Hội An tôi thấy đến lúc đi yên ủi giáo dân ở trong nhà chúa. Ít ngày nay họ mới có một tin rất buồn nhất là người đầy tớ của Chúa là bà Maria, bà d́ của Chúa, bởi v́ con bà, chỉ v́ sự chế diễu nhỏ chúa tỏ ra chống giáo dân mà đă cho phá ngôi nhà thờ lớn bà đă cất trong tư dinh của bà. Bà đă quá đau đớn v́ tôi ác của con bà đến nỗi trong tám ngày liền bà như điên cuồng chạy đây đó không c̣n biết ǵ nữa. Tôi đến yên ủi bà, nhưng không dám ra mắt ban ngày trong thành phố lớn này, tôi ẩn tránh trong một thành phố nhỏ hơn ở bên cạnh. Bà vừa biết th́ liền bỏ dinh đến thăm tôi. Một số đông giáo dân cùng theo bà và Thiên Chúa đă chúc lành cho công việc của chúng tôi”[4].

”Nguyễn Phúc Khê từ trần vào ngày 22 - 8 - 1646, có lẽ đó là một nỗi buồn lớn cho bà Minh Đức v́ ông Phúc Khê cho đến giờ chót vẫn từ chối gia nhập đạo”[5].

Giống như nghe một tin buồn cho bà mẹ, như hoạ lại khuôn mặt đau buồn Đức Maria trong ngày đứng bên Thập Giá. Tất cả t́nh thương dành cho những người con thứ là nhân loại, nhưng họ vẫn hả hê sau việc đóng đanh người Con Trưởng của Mẹ vào Thập Giá.

“Đoạn thứ năm : Giảng Kính Đức Bà chịu khó v́ ta.

Chẳng những phải kính mến Đức Bà v́ yêu ta không cùng phải mến v́ xưa chịu những sự thương khó. Vậy khi Người thấy con ḿnh chịu tội, th́ chịu khó hơn các thánh Má tê ri, từ ông A bi Lê cho đến người ta đời đời chịu khó v́ đạo Đức Chúa Trời. V́ chưng Đức Bà thảm thiết con, cùng đau đớn trong ḷng hơn các thánh xưa nay chịu bề ngoài. Sự ấy bởi Người yêu chuộng con ḿnh, là con thật Đức Chúa Trời, cùng yêu thương sự thương khó v́ chịu chết xấu hổ cách ấy. Mà hễ là chịu khó con chịu th́ cũng thâu qua ḷng Đức Mẹ, cho nên sự thương khó Người chịu th́ trí người ta suy chẳng đến”[6].

T́nh mẹ con phải nói đó là một thứ t́nh cảm thiêng liêng khó mà thay đổi được, người con có thể chống lại người mẹ nhưng bao giờ tiếng nói t́nh thương của người mẹ cũng là tha thứ. Bởi thế, người ta thường hay sánh ví t́nh mẹ như “Xôi nếp một, như đường mía lau”.

Trong thế giới linh thiêng, người Việt c̣n có một tâm hồn tôn giáo tự nhiên và thâm sâu, các bà mẹ là những người có chiều sâu tâm linh hơn cả giới các ông, cuộc đời của họ có thể được xếp lại sau thời gian hoạt động cho việc sinh sống, để trở về đời sống cội nguồn tâm linh lo tích đức để hậu cho con cháu. Cha L. Cadière có nhận xét : “Tôi muốn nói đến các vị đại quan kia, các hoàng thân kia, các bậc mệnh phụ kia; những người này, sau một cuộc đời nhiều khi sóng gió, rút lui về chiều, ẩn ḿnh trong một thiền viện nhỏ do ḿnh lập nên và ở đó họ sống cuộc đời từ bỏ, thiền định, khổ tu.. rất là gương mẫu. Đó là ơn gọi nghiêm túc ta gặp thấy không những trong giai cấp thượng lưu mà cả trong đám b́nh dân thôn dă”[7].

Phải nói thêm một folklore nữa chăng, một tâm hồn tôn giáo tiềm ẩn trong ḷng người Việt, mà ở đó cả cuộc đời cứ hoài thao thức về một cảm thức tâm linh. Trừơng hợp của bà Minh Đức Vương Thái Phi đại diện cho bao nhiêu tâm hồn khác của những người phụ nữ Việt, một khi họ đă theo Chúa, t́m ra ơn gọi của ḿnh trong đời sống là họ thực hiện hết ḿnh bằng cả cuộc đời. Điều đầu tiên mà các bà thường dạy con cái trong bất cứ trường hợp nào là sống theo gương mẫu của Đức Mẹ. Việc cầu xin với Đức Mẹ là thường xuyên. Những tâm hồn của các bà mẹ th́ hiểu tâm t́nh của Đức Mẹ và dường như là vậy, do đó các bà mẹ chịu khó lần chuỗi hơn ai hết, để cầu nguyện cho các con của ḿnh. Xin cám ơn các bà mẹ và ngàn lần cám ơn các bà mẹ Việt xưa và nay.

Ngọc Liên Công chúa.

Theo sử liệu năm 1629, chúa Nguyễn cử phó tướng Nguyễn Phúc Vinh làm trấn thủ Trấn Biên. Và ông làm trấn thủ đến năm 1641. chúa Nguyễn Phúc Nguyên có 4 người con gái:

Ngọc Liên vợ tướng Nguyễn Phúc Vinh.

Ngọc Vạn được gả cho vua Chân Lạp.

Ngọc khoa,[8]

Ngọc Đĩnh là vợ tướng Nguyễn Cửu Kiều.

Việc công chúa Ngọc Liên lănh nhận bí tích rửa tội được liên kết với một cuộc tranh luận giữa một tín hữu mang tên thánh rửa tội là Jeronimo với một nhà sư. Cuộc tranh luận này được tổ chức  trước mặt chúa Nguyễn Phúc Nguyên, hiện diện có cả vợ chồng trấn thủ Phú Yên Nguyễn Phúc Vinh và bà vợ Ngọc Liên. Tín hữu Jeronimo là một người đạo mới, nhưng rất thông Nho học. Ông bài bác vấn đề nhà sư đưa ra là con người có 3 hồn 7 vía (người nữ có 3 hồn 9 vía) và minh chứng là con người chỉ có xác và hồn mà thôi. Trong cuộc tranh luận này người tín hữu đă thắng. Bà Ngọc Liên rất cảm phục. Nhận thấy Công Giáo rất hay, bà xin theo. Cha Buzomi đă rửa tôi cho bà vào năm 1636 tại Phú Yên và đặt tên thánh cho bà là Maria Madalena.

Cách thức ngày xưa truyền đạo người ta cũng hay dùng cách thức tranh luận về đề tài nào đó để phân biệt đạo lư nào đúng sai. Cuốn “Hội Đồng Tứ Giáo” rất nổi tiếng trong kho tàng Hán Nôm Công Giáo là một điển h́nh của cách thức tranh luận thời xưa đó.. trong tủ sách Hán Nôm của cha Nguyễn Hưng có 2 bản in tại Tân Định bằng chữ quốc ngữ (1887 và 1915) tái bản đến 15 lần, một bản in tại nhà in Thái B́nh (1952) in tới 12 lần. Kỷ lục về những lần xuất bản. Vấn đề tác giả và tác phẩm c̣n nhiều nghi vấn chưa trả lời được chính xác. Vấn đề đưa ra ở đây nhằm minh chứng cách thức truyền giáo theo cách tranh luận thời xưa là hay dùng, (nếu không nói đến tính cách hộ giáo của những thế kỷ đầu tiên).

De Rhodes ghi nhận : “Một bà nhân đức tên là Maria Madalena, vợ quan trấn thủ, đă làm nhiều việc thiện trong tỉnh Phú Yên, bà c̣n là một người sáng lập một bệnh viện để chăm sóc tất cả giáo dân và người tân ṭng bị chứng bất trị. Trong đám bệnh nhân có mấy người cùi sẵn sàng chịu phép rửa tội, để được trong sạch trong linh hồn. Mỗi ngày người ta giảng dạy những điều cần thiết để chuẩn bị phép bí tích ban ơn thánh, có mấy người bổn đạo cũ đến giúp và dự vào việc huấn giáo”[9].

Đặc tính của người nữ là yêu thương phục vụ, có rất nhiều ơn gọi phục vụ không kèn không trống đang diễn ra từng ngày, trong gia đ́nh, trong giáo xứ, trong các môi trường hoạt động thiện ích xă hội. Việc  những người nữ tham gia vào việc hoạt động truyền giáo trở nên hữu hiệu, khi các vị thừa sai dùng họ. Cũng cần giả thiết rằng, các vị thừa sai đă mạnh dạn khai trí cho những người nữ giáo dân này, để họ có khả năng giảng dạy, hướng dẫn người khác biết Chúa. Điều này, không ngạc nhiên ở các nước Châu Âu, nhưng tại xứ An Nam, những người nữ thường ít được tạo điều kiện cho việc đi học mở mang kiến thức. Người nữ cần học “công dung ngôn hạnh” hơn là vài pho chữ về làm quan làm tướng. Quan niệm này rất lâu trong lịch sử, như vẫn thấy vấn đề được đưa ra nhiều ở trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn đấu tranh cho quyền người phụ nữ. Các vị thừa sai có thể bị hiểu lầm và bị cấm khi quy tụ những người nữ giáo dân này để cho họ được học hỏi giáo lư, đào tạo đời sống đức ái. Dẫu khó khăn nhưng đó cũng là điểm khơi sáng của việc hội nhập văn hóa. Bởi v́ hội nhập c̣n có vai tṛ khai sáng văn hoá hướng tới sự hoàn thiện hơn.

Dựa vào ḷng bao dung, lại nữa như một folklore của dân tộc, các vị thừa sai khơi sáng ḷng bao dung hướng tới những người nghèo, những người bị bỏ rơi, những tầng lớp bị áp bức. Mầm mống của các cuộc bách hại một phần cũng do việc hướng tới những người nghèo này của các vị thừa sai, làm mất hay suy giảm ảnh hưởng của vua quan trên dân mà đa số là người nghèo.

Năm 1641 cha Đắc Lộ rửa tội được 1355 người do bà Ngọc Liên dạy đạo, thành quả này giống như Phêrô trong ngày đầu rao giảng Tin Mừng hơn 3000 được rửa tội. nguyện đường của bà Ngọc Liên được đặt trong dinh của tướng Nguyễn Phúc Vinh. Tại đây có 90 người được chịu phép rửa tôi, trong số đó có Anrê Phú Yên, là thánh tử đạo đầu tiên của Đàng Trong. Việc theo Chúa luôn đ̣i hỏi một sự can đảm phi thường để vượt qua băo tố. Trong cuộc bắt đạo thời Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần năm 1665, bà Ngọc Liên bị tịch biên tài sản, bị đuổi ra khỏi nhà, và cư trú trong cḥi tranh vách lá. Cơn bách hại gắt gao hơn, bà bị bắt biệt giam trong 4 bức tường, không được ăn uống, nhằm mục đích bắt bà bỏ đạo. Sau năm ngày bà bị giam, đói khát hành hạ, trong phút yếu ḷng bà đă chối đạo, nhưng sau đó bà đến xưng lỗi cùng cha Bề Trên Louis Chevreuil. Người ta cũng không rơ năm bà mất.

2.    Những bà mẹ tử đạo.

Nếu để tôn vinh những bà mẹ tử đạo, có rất nhiều gương lành. Số 117 vị tử đạo Việt Nam, nói lên 117 tâm hồn Việt được phong Thánh 1998, có một phụ nữ duy nhất, mẹ của 6 người con. Đó là bà Annê Lê Thị Thành, c̣n gọi là bà Đê. Trước khi là một anh hùng tử đạo, bà đă là một người mẹ hiền gương mẫu. “Thân mẫu chúng tôi rất chăm lo việc giáo dục các con, chính người dạy chúng tôi đọc chữ và học giáo lư, sau lại dạy cách dự Thánh Lễ và xưng tội rước lễ lần đầu”. Đó là lời khai của cô con gái út trước giáo quyền.

Trong một  nhân chứng khác, cô Anna Năm đă xác nhận: "song thân chúng tôi chỉ gả các con gái cho những người thanh niên đạo hạnh. Sau khi tôi kết hôn, thân mẫu thường đến thăm chúng tôi và khuyên bảo những điều tốt lành. Có lần người dạy tôi: "Tuân theo ư Chúa con lập gia đ́nh là gánh rất nặng. Con phải ăn ở khôn ngoan, đừng căi lời cha mẹ chồng. Hăy vui ḷng nhận Thánh Giá Chúa gửi cho".

Nhà bà Đê là nơi các Linh Mục trú ẩn. Buổi sáng Lễ Phục Sinh năm 1861, quan tổng đốc Nam Định cho quân bao vây làng của Bà. Bà Đê bị bắt lúc 60 tuổi. Bà bị đánh đập tra tấn, bị ép phải chối đạo. Bị lôi qua  Thánh Giá, bị bỏ rắn độc vào người. Khi con gái đến thăm bà trong  nhà giam, đau đớn v́ thấy quần áo mẹ loang đầy vết máu, bà đă an ủi con với niềm lạc quan lạ lùng: “Con đừng khóc, mẹ mặc áo hoa hồng đấy, mẹ vui ḷng chịu khổ v́ Chúa Giêsu, sao con lại khóc?”.

Sau ba tháng chịu khổ đủ mọi cực h́nh, người phụ nữ ấy đà hiến đời ḿnh cho Chúa”[10].

Sách 117 vị Tử đạo c̣n kể về những bà mẹ khác nữa, tuy không Tử đạo song đă vui ḷng hiến dâng con cho Chúa như gương của bà Nhiệm, mẹ thánh Mathêu Lê Văn Gẫm thuật lại :" Hai vợ chồng chúng tôi nghe con chết th́ chẳng có thảm thiết ǵ, một vui ḷng mà rằng: chết vậy đặng làm thánh." Ta thấy, cái ước mơ rất đơn giản của bà mẹ Việt Nam là thế đó, chẳng mơ ước con cái sống cao sang nhờ ân lộc vua ban, mà chỉ mong con cái giữ lấy đạo Chúa cho đến cùng.

Đến như cuộc gặp gỡ cuối cùng của bà Lư với chồng mà tất cả quan quân đều tưởng, vợ con làm xoay chuyển ḷng dạ ông Mỹ để ông quá khoá, nhưng không dễ là như vậy, bởi ḷng người phụ nữ Việt nam nặng nghĩa với đạo cũng như t́nh nghĩa chồng con, trên tay bà bế đứa bé vài tháng tuổi trao cho ông bồng bế những giây phút cuối cùng ông gặp được con, người phụ nữ ấy đă một ḷng trung kiên nói với ông : " Vợ con ai mà không thương tiếc, nhưng ông hăy hy sinh vác Thánh Giá rất nặng v́ Chúa, hăy trung thành với Chúa cho đến cùng, đừng lo nghĩ ǵ về mẹ con tôi. Thiên Chúa sẽ quan pḥng tất cả. Đến viếng thăm ông lần này có lẽ là lần sau hết, cầu xin cho ông được vâng theo ư Chúa."

Có một bà mẹ khác, v́ thương con nên không muốn con gặp điều này điều kia rắc rối, đă khuyên nhủ con ở lại nhà thay v́ dâng ḿnh cho Chúa, nhưng ư của con do chính mẹ nhào nắn, đă không thua cuộc trong cuộc chạy đua t́m kiếm triều thiên Tử đạo, như trường hợp của Thánh Phanxicô Nguyễn Cần. Ḷng người mẹ thật bao dung khi đón nhận con ḿnh tuỳ theo ư Chúa.

Thật là diệu vợi những tấm ḷng bà mẹ biểu hiện t́nh yêu của Thiên Chúa, khi muốn cho con những điều tốt nhất. Mẫu gương của một bà mẹ Việt Nam, phác họa lại h́nh ảnh của một bà mẹ năm xưa đứng dưới chân Thập Tự Giá, hiến tế chính người con yêu thương, như bà mẹ của Thánh Anrê Trần Anh Thông. Đến lúc, đầu con rơi khỏi cổ bà vẫn c̣n can đảm đón nhận :" Đây là con tôi, đứa con mà con cưu mang dưỡng dục. Giờ này nó vẫn là con tôi, xin các ông trả lại cái đầu của con tôi".  Những bà mẹ có công sinh con ra cho trần thế lại c̣n sinh con cho Nước Trời can đảm là vậy.

Có những tâm hồn khác nữa của những tâm hồn bà mẹ, không là gốc Việt nhưng đă đổ tràn t́nh mẫu thân của ḿnh trên đất Việt, bằng sự hiến tế những người con của ḿnh cho công cuộc truyền giáo tại Đất Việt, như bà mẹ của thánh Jacintô Castaneda tử đạo, đă hát lời kinh Te Deum, khi hay tin con ḿnh chịu tử đạo tại Việt Nam. Điều này cho chúng ta thấy bằng chứng rằng, cuộc đời những bà mẹ đă tạo nên những vị thánh cho trần thế này không hẳn là ít[11].

Trong cuộc sống không lịch sử, không ít những bà mẹ đang sống cuộc đời Tử đạo ấy ngay trong cuộc sống đời thường của ḿnh. Chỉ cần nh́n sự kiên nhẫn của một bà mẹ, chăm chút cho đứa con thơ  ăn từng bữa ăn thôi, đă có thể nhận biết về Thiên Chúa yêu thương hết mực.

Nếu có thể nói ư nghĩa Tử Đạo nơi những bà mẹ hôm nay, có lẽ cần kể về những giọt nước mắt của bà mẹ. Những giọt nước mắt có giá trị linh thánh, thánh hoá được chồng, giáo hoá được con, như giọt nước mắt Thánh Nữ Monica và của biết bao bà mẹ Việt Nam.

"Nhớ lời mẹ dạy th́ chắc không nhớ hết, nhưng cứ nghĩ ḿnh mà tái phạm mẹ khổ mẹ khóc, th́ chúng tôi lại chẳng dám làm. Mẹ khóc, chúng tôi bớt chơi hoang. Mẹ khóc, chúng tôi định thần lại. Mẹ khóc, chúng tôi chín chắn hơn. Tôi nghiệm ra rằng, mỗi lần mẹ tôi khóc, từ khổ đau mẹ lại kinh nghiệm hơn, vững vàng hơn và nghị lực hơn.

Giờ đây, mỗi đứa chúng tôi đă thành người. Trong sự thành đạt hôm nay của chúng tôi có những giọt nước mắt của mẹ. Nước mắt của mẹ tôi chắc sẽ c̣n dịp rơi nữa, nhưng chúng tôi hứa đó sẽ chỉ là những giọt nước mắt hạnh phúc và sung sướng."

 Vẫn c̣n  đó những tấm ḷng của những bà mẹ Việt suốt đời lo cho chồng, lo cho con. Có một lần trên trang báo, kể lại một bà mẹ miền Trung nghèo khổ, mua bán từng trái cóc, trái ổi, từng những chắt chiu của mùa mót lúa, nhặt nhẹn từng chút, gom về đổi chữ cho con. Bà đă nuôi bốn người con tốt nghiệp đại học thành nhân rồi thành thánh.

Dường như cuộc sống này không ngày nào mà tôi không thấy những hy sinh cao quư của những bà mẹ trần thế, đưa con đến trường, rồi đưa con đến Nhà Thờ, và c̣n đưa con tới ḷng yêu thương của Thiên Chúa. Xin cám ơn cuộc đời có những người mẹ hy sinh v́ con và cho con tất cả, để cảm tạ Thiên Chúa và tri ân những đấng bậc sinh thành cho tṛn ḷng hiếu thảo của những người làm con.

Chỉ có thể hiểu được những hy sinh của những bà mẹ hôm nay bằng những giọt mồ hôi và nước mắt lau vội qua những tay áo đời thường, để hiểu được t́nh Chúa yêu thương và xác tín hơn một Thiên Chúa  vẫn c̣n đang hiện diện trên ḍng lịch sử của nhân loại, hôm qua cũng như hôm nay.

Không thể kể hết những hy sinh của những bà mẹ. Nhưng viết ra để tôn vinh những hy sinh đời thường và rất thường ấy của những bà mẹ hôm nay đang hoạ lại h́nh ảnh người Mẹ đứng dưới chân Thập Giá năm xưa. V́ chắc chắn rằng trong sự thành công của những người con có rất nhiều giọt nước mắt mồ, hôi nước mắt của mẹ dệt thành.

 

 

 

 

 

 

 

3.    Những nữ tu đầu tiên.

Theo sử liệu cha A. de Rhodes ghi lại trong hai cuốn lịch sử và hành tŕnh của ngài có thuật lại chuyện 4 nữ tu gốc Tây ban Nha bị đuổi khỏi Macao, họ xuống tàu đi qua Philippin, dọc đường gặp băo thổi dạt vào bờ biển Việt nam, họ là những người nữ tu đă t́nh cờ đến Đàng Trong đầu tiên vào ngày đầu tháng 2 - 1645.

“Người ta đồn rằng các bà là những người thánh, sống ẩn dật và che kín, nhưng người ta không thể tin các bà cắt tóc, điều rất lạ đối với dân ở đây, v́ đàn bà chăm sóc đặc biệt để giữ ǵn mái tóc. Họ quư tóc gần như đầu họ vậy. Lời đồn cứ lan dần và chúa muốn nh́n tận mặt. Chúa mời tất cả vào dinh. Điều đầu tiên chúa bà muốn đó là xin các nữ tu mở khăn che, v́ bà mong được xem có thật các nữ tu cạo đầu, điều mà không ai tin. Các nữ tu đáp rằng không thể được, nhất là trước nhiều phái nam như thế này, nhưng bằng ḷng vén khăn lên trước mặt chúa bà cho chúa nh́n thấy mặt. Chúa hơi phật ḷng và nói ḿnh để lộ mặt ra th́ tại sao nữ tu không mở khăn che”[12].

Công chúa Chiêm được rửa tội ngày 22 – 5 - 1591 do linh mục Pedro đặt tên thánh là Maria, c̣n gọi là công chúa Mai Hoa, công chúa muốn đi tu, nhà vua nhường lại cho một cung điện ngoài thành và tại đây xây dựng lại thành một tu viện, lấy tên Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, khánh thành ngày 26 - 7 - 1591, có 51 chị ḍng, công chúa là tu viện trưởng. Sự việc này c̣n nhiều ư kiến khác nhau.

“Năm 1640 là năm thứ 14 kể từ khi chúng tôi vào xứ Đàng Ngoài, giáo hội mới được khoảng 100.000 giáo dân và khắp nơi người ta sẵn sàng tin theo..thế nhưng satan đă gây nên một cuộc bách hại mới làm cho giáo dân khốn đốn hơn những cuộc bách hại trước đây.. vụ bách hại này kéo dài 3 tháng..ḷng kiên tŕ của ba thiếu nữ tỉnh gọi là Miền Đông đă khấn giữ trinh khiết và quyết định của họ khi được tin có vụ bách hại thật là đặc biệt. Họ viết một bức thư rất hay cho các cha ḍng để bày tỏ ḷng can đảm, Thiên Chúa đă cho họ đến tự xưng là giáo dân trước mặt chúa và cam đoan họ sẵn sàng đổ máu để duy tŕ danh hiệu và danh tính vinh hiển. Họ chỉ muốn sống và chết với danh hiệu là giáo dân. Những trinh nữ này tên là Mônica, Nympha và Vita. Sau đó ít lâu, Thiên Chúa c̣n sửa soạn cho họ một thử thách lớn để thử can đảm của họ và cho họ có dịp tốt để lập công. Vita bất thần bị rời xa các bạn và bị một tên lính xấc láo muốn làm hại danh dự ḿnh, đến nỗi hắn tuốt gươm trần đặt trên ngực và đe doạ giết nếu không theo ư hắn. Người con gái anh hùng không thèm bàn căi, đă trả lời: Được rồi, mi cất mạng ta, chứ danh dự thân xác ta đă dâng cho Thiên Chúa. Rồi cô đưa cổ và ngực nói thêm: Đây, mi đâm đi ở bất cứ chỗ nào. Ta vui ḷng chết, ngh́n lần hơn là theo ư dâm đăng và phạm tội đến Đấng ta thờ. Quyết định này làm cho tên lính sửng sốt và cứu được danh dự cho người trinh nữ. C̣n hai người kia cũng tỏ ra can đảm không kém trong một cuộc thử thách đức tin bị tấn công. Hai cô ra kinh thành cùng một bà có tuổi là bà Phanxica để chịu các phép bí tích và được bồi dưỡng sức chống lại những tấn công của vụ bách hại. Giữa đường gặp mấy tên lính ngoại đạo. Bị hỏi về theo đạo nào và khi các cô xưng rơ ràng, không sợ sự đe doạ của bọn chúng và sau khi chịu nhân những lời hỗn xược, các cô bị chúng quăng xuống hố, lấp đất tới cổ và ở đó suốt đêm cho tới sáng. Thiên Chúa cho mấy người giáo dân đi qua và thấy sự thể, người ta mới lôi ra khỏi và dẫn vào kinh thành. Từ đó, cả 3 trinh nữ được ẩn nấp trong một nơi an toàn và có năm sáu cô khác cũng có những quyết định như vậy và cùng tự nguyện trói buộc ḿnh bằng những lời khấn trinh khiết trọn đời. Tất cả đều đến họp với 3 cô trong một nhà làm thành một tu viện trinh nữ, sống đời sống cac thiên thần. Tôi không bỏ quên ở đây h́nh phạt tức thời Thiên Chúa đă ra phạt một thanh niên dâm đăng v́ một bà quả phụ đă khấn thủ tiết. Hắn định dùng vơ lực bắt ép bà, c̣n bà th́ trong lúc cùng cực, kêu cầu sự phù hộ của đức Trinh Nữ  mà bà hằng tôn sùng  và hết ḷng xin Người bảo vệ. Lời cầu xin tức th́ được nhận và h́nh phạt tới ngay tên dâm đăng; một tay vô h́nh nào đă giơ lên và hắn ngă chết ngay tại chỗ”[13].

4.    Lập Ḍng Mến Thánh giá.

Ngày 1 - 11 - 1667 trước khi đi kinh lư phía nam, cha Deydier viết thư cho cha Lambert, có nhắc đến một số phụ nữ, một số bà goá sống chung với nhau chừng 30 người phía Tây thành Thăng Long, theo lời mời gọi của các cha ḍng tên. Đây chưa phải là ḍng tu.

Cuối tháng 3 - 1669, cha Deydier sau khi đi qua Kẻ Vối cha ghé thăm Kẻ Mong, cha kể : “Ở nhà xứ đó , có 3 thiếu nữ giữ ḿnh trinh khiết, sống chung với nhau theo một vài luật phép mà tôi đặt cho họ, với hy vọng Thiên Chúa sẽ cho chúng tôi phương thế lập một thứ tu viện, để 3 thiếu nữ này và rất nhiều thiếu nữ khác cũng có chí hướng như thế, có thể đến với nhau”.

Cha Lambert nhận định: “Trong tay Hội Thánh:linh mục và ḍng nữ là hai nhân tố đem đức tin và bác ái thấm nhuần cho một dân mới”.

Với thao thức đó, cha Lambert thành lập ḍng Mến Thánh Giá.

Trong một lá thư gửi cho các thiếu nữ đang sống dấn thân tại Kiên Lao và Bái Vàng, cha viết:

“Chị em thân mến.

Từ khi cha đến vương quốc này, một trong những công việc chính của cha là t́m hiểu t́nh trạng giáo hội tại đây. Theo báo cáo đă gửi cho cha, cha hết sức vui mừng được biết chúng con đă tận hiến cho Thiên Chúa bằng một lời khấn riêng. Sự cam kết đó là một dấu chứng hiển nhiên về ḷng thương xót đặc biệt của Thiên Chúa đối với chúng con. Vậy nên điều hữu ích là chúng con tỏ ḷng tri ân Người hơn những kẻ khác không được ơn cao trọng như thế. Chính v́ nhận định thiết tha như vậy, nên cha nảy ư kiến muốn đề nghị với chúng con một lối sống mà cha nhận thấy rất có lợi cho vinh quang Người. Cha có thể quả quyết với chúng con rằng trước khi biết hay nghe nói ǵ về chúng con th́ từ lâu cha đă nghe được lời mời gọi khẩn thiết trong nội tâm phải viết lối sống đó ra để làm ích cho một số linh hồn nào được Thiên Chúa yêu dấu cách phi thường; nay được biết chúng con, cha càng thêm tin tưởng để dạy cho chúng con lối sống đó. Vậy xin chúng con hăy nhận lấy lối sống này như từ Thiên Chúa mà đến hơn từ cha; và hăy tín chắc rằng nếu chúng con muốn đi theo con đường trọn vẹn này, th́ chúng con sẽ đạt tới mức độ rất cao trong sự hiểu biết và yêu mến Đức Giêsu Kitô. Đó là điều làm nên tất cả hạnh phúc đời nay và đời sau”[14].

Có thể kèm theo lá thư này Đức cha cũng gửi theo bộ luật Ḍng, do chính Đức cha soạn ra. Theo tôn chỉ của 2Cor 5, 15 : “Đức Kitô đă chết cho mọi người; để những ai đang sống không c̣n sống cho chính ḿnh nữa, mà sống cho Đấng đă chết và sống lại v́ ḿnh” mà Đức cha đưa ra đường lối tận hiến.  

1. Mục đích của Ḍng Mến Thánh Giá.

a) Mục đích của tu hội này là đặc biệt chuyên chú suy niệm mỗi ngày những nỗi khổ đau của Chúa Giêsu Kitô như phương thế thuận lợi nhất để đạt tới sự hiểu biết và yêu mến Người.

b) Việc thực hành thứ nhất của những người vào tu hội là luôn dùng nước mắt sám hối và nài van, việc suy gẫm cầu nguyện và hăm ḿnh đền tội, kết hợp với công nghiệp của Đấng cứu Thế, để cầu xin Thiên Chúa ban ơn ăn năn trở lại cho lương dân trong ba miền truyền giáo thuộc quyền các vị Đại Diện Tông Toà, cach riêng ở Đàng Ngoài.

2. Việc thứ hai là dạy các thiếu nữ, lương cũng như giáo, những điều nữ giới cần biết, nếu v́ t́nh huống cấp bách xảy đến cho Đạo Thánh khiến không thể làm được, chị em phải nhớ rằng, khi hoàn cảnh cho phép th́ đó là một trong những công việc chính của ḿnh.

3. Việc thứ ba là săn sóc những phụ nữ, thiếu nữ đau ốm, bệnh hoạn, cả lương lẫn giáo. Nhờ đường lối đó, khuyên bảo họ lo phần rỗi và trở lại với Chúa.

4. Việc thứ bốn là chăm lo rửa tội, trong trường hợp cần thiết, cho những trẻ nhỏ có nguy cơ chết mà không chịu phép rửa tội.

5. Việc thứ năm là cố gắng làm mọi sự theo sức có thể, để lôi kéo những phụ nữ và thiếu nữ truỵ lạc ra khỏi nếp sống xấu xa của họ.

Với mục đích như thế,  có 14 điều nhiệm nhặt, ví dụ như:

Điều 11: “thường xuyên kiêng thịt trọn đời, trừ các ngày lễ Giáng Sinh, Phục Sinh và Hiện Xuống”.

Bản quy luật của Đức cha kư ngày 26 - 2 - 1670, tại Đàng Ngoài. Với ngày này Ḍng Mến Thánh Giá tổ chức ngày Lập Ḍng.

5.    So sánh với quan niệm tu tại đất Việt

Truyền thống tu hành trên Đất Việt thời bấy giờ ảnh hưởng bởi Nho Giáo và Phật giáo.

Quan niệm tu của Nho giáo cốt ở việc sửa ḿnh, sách Đại Học chép: “Tự vua cho đến người dân, ai cũng phải lấy sự sửa ḿnh làm gốc”[15]. Tu là giữ tâm cho chính, ư cho thành rồi mới cách vật trí tri được. Tâm chính, có nghĩa là, đừng để sự lo giận, say sưa, hoan lạc làm lệch đi cái nghĩa lư ngay thẳng. Ư thành, nghĩa là ḿnh không dối ḿnh, dối người. Tâm thành và ư thành th́ đạt được trí tri cách vật. Biết căn nguyên mọi sự th́ biết sống hài hoà. Tu thân, tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ, đều do tâm thành mà phát nguyện.

Tu theo Phật giáo: Tu luyện, trước hết là diệt khổ, bằng cách cứu khổ, cứu nạn qua t́nh thương yêu đồng loại. Phật nói: “Vậy nên, này Ananda, hăy tự ḿnh là ngọn đèn cho chính ḿnh, hăy tự ḿnh nương tựa vào chính ḿnh, chớ nương tựa vào một cái ǵ khác. Dùng chính pháp làm ngọn đèn, dùng chính pháp là chỗ nương tựa, chớ nương tựa cái ǵ khác”[16].

Chính pháp nói ở đây là cung cách tu hành, nguyện sống và hành động sao cho thanh sạch, không tham lam, hung dữ, si mê, toả t́nh thương cứu khổ, cứu nạn đối với chúng sinh.

C̣n đối với truyền thống Đạo Hiếu, tu có nghĩa là : “Tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ mới là đi tu”.

Những trinh nữ tụ họp sống đời thanh khiết tận hiến với nhau, không nghịch với truyền thống của người Việt. Truyền thống tâm linh hướng về đạo giáo nằm trong ḍng máu Việt.

L. Cadière ghi nhận : Nguyên nhân dẫn đến việc xuất thế, tu tŕ, thanh luyện là có cái gốc thần bí, sống kết hợp với siêu việt: “Tôi muốn nói đến các vị đại quan kia, các hoàng thân kia, các bậc mệnh phụ kia; những người này, sau một cuộc đời nhiều khi sóng gió, rút lui về chiều, ẩn ḿnh trong một thiền viện nhỏ do ḿnh lập nên và ở đó họ sống cuộc đời từ bỏ, thiền định, khổ tu.. rất là gương mẫu. Đó là ơn gọi nghiêm túc ta gặp thấy không những trong giai cấp thượng lưu mà cả trong đám b́nh dân thôn dă”[17].

Có một điều trong điều 8 b luật ḍng: “Khi đọc Thánh Vịnh Sám Hối và lời nguyện xin Chúa đoái xem th́ ai nấy lấy roi da, dây bẩy mối đánh ḿnh cho nức nở mà nhớ công ơn Con Đức Chúa Trời đă chịu nạn v́ chúng tôi. Ai đánh tội chung chẳng đặng, phải mang toả sắt hay là hành ḿnh cách nào theo ư thầy giải tội dạy”, điều này, không có trong thói quen tu hành của người Á Đông.

Tại một số vùng để tỏ ḷng thảm thiết, khốn khổ vô hạn, người ta gục đầu sát đất, miệng ngậm cỏ van vái trời hoặc có thể trét đất, bùn, tro, trấu, lên đầu lên cổ ḿnh. Hành vi “cắn cỏ ngậm vành” nói lên sự khốn khổ của họ, tách ra khỏi ṿng nhân sinh, sống như loài giun loài dế, hàng súc vật không hơn không kém. Đó là dấu chỉ đau đớn muộn phiền, ngoài ra việc ngậm cỏ c̣n nói lên việc ăn chay, hăm ḿnh, đánh tội, có thể nói đó là hành vi khiêm tốn hạ ḿnh trước Đấng siêu việt. Trong tâm thức người Việt hành vi ăn chay, đánh tội là một việc đơn thường. Do tính chất của người Việt là nghề nông, nên tính cách Việt cũng mang tính nhẹ nhàng hơn, có thể lấy ví dụ như : T́nh người cha đối với con, nó là một thứ t́nh b́nh thản như  đồng lúa êm ả. Nó không sôi sục, cháy bỏng như t́nh con chim Pélican của Alfred de Vingy, khi con đói, cha t́m mồi mỏi cánh không ra, trở về rỗng không, v́ thương con, cha tự mổ bụng để con rút thịt ḿnh ra ăn. Cái t́nh cha người Việt nó tự tại như tre già,  để mặc sức người ta chặt ḿnh để cho măng mọc lên. T́nh cha như muốn thể hiện, mà lại không biết cách nào tỏ ra hiển hiện. Thầm lặng mà sâu, nhợt nhạt mà lại bền bỉ, đằm thắm mà nồng nàn. Việc đánh tội, phạt xác, lấy roi tự đánh ḿnh, nó mạnh mẽ như  cách thể hiện của con chim Pélican, tự mổ bụng ḿnh. C̣n với người Việt việc đánh tội ấy giống như  cái t́nh cha người Việt nó tự tại như tre già,  để mặc sức người ta chặt ḿnh để cho măng mọc lên. Khi đem việc đánh ḿnh phạt xác như vậy áp dụng vào văn hoá Việt, thấy có vẻ ghê rợn quá sức, có thể làm cho nhiều người lương, thấy có vẻ kỳ quặc, dị nghị.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                   

6.    Nhà Mụ.

Về mặt danh xưng “Mẫu” là từ gốc Hán - Việt, c̣n thuần Việt là “Mẹ - Mụ”, Mụ là danh xưng dành cho người đă sinh thành ra một người nào đó, là tiếng xưng hô tŕu mến của con cái đối với những người đă sinh thành ra ḿnh. Danh xưng Mẹ _ Mẫu đặc biệt mang tính chất tôn vinh : Mẹ Âu Cơ, Mẫu nghi thiên hạ, Mẹ Maria, Thánh mẫu Maria.

Ngày nay không c̣n thông dụng từ ngữ Mụ nữa, bởi v́ qua ḍng lịch sử văn ngữ, ư nghĩa chịu sự biến đổi của thời gian và hoàn cảnh. Tiếng mụ, bây giờ có ư chê bai người phụ nữ nhiều lời nhiều chuyện, đanh đá, đỏng đảnh. Với ư nói đến người đàn bà xấu tính, trái nết.

Sở dĩ ngày xưa dùng danh từ Mụ chỉ những người nữ dấn thân sống đời đồng trinh là bởi v́:

Thưở sơ khai khi truyền giáo tại Việt Nam, các cha thừa sai, chưa rành tiếng Việt mấy, các cha thừa sai huấn luyện các nữ tu để có thể thay các cha giảng dạy giáo lư, khi các ngài không đến được với giáo dân hoặc không nói trực tiếp được với giáo dân. Người dạy cho người khác dù chỉ “bán tự vi sư, nhất tự vi sư”, đă là thầy đều được kính trọng, như trên đă nói, người thầy là người sinh ra tâm hồn nên đáng được gọi danh xưng là mẹ - mụ.

Danh xưng Mụ c̣n chỉ những “bà đỡ”, các bà rất quan trọng trong vấn đề giúp các mẹ sinh nở “mẹ tṛn con vuông”. Nhờ  các bà đỡ khéo tay và nhân hậu, tốt phước ấy mà người Việt, cũng đặt ḿnh ẩn náu dưới sự phù tŕ của mười hai vị thiên mụ. Mụ với danh xưng ấy, người ta dành cho các nữ tu, như bà đỡ tinh thần, sinh ra tâm hồn người tín hữu.

Các nữ tu phần nhiều lo công việc từ thiện, chăm sóc cô nhi quả phụ, người đau yếu, về tinh thần cũng được gọi là mẹ - mụ hay c̣n c̣n được gọi cách trực nghĩa là “d́ phước”.

Nhà mà các d́ phước ở cũng được gọi là “nhà Mụ”. Thậm chí ngay cả ruộng các d́ canh tác cũng được gọi là ruộng các mụ.

Sau này, người Việt gọi là “d́” cũng có nghĩa là ở vai em của mẹ, xem những người đi tu thuộc về mọi gia đ́nh, đều được kính trọng với vai trên của người gọi.

Người Việt cao quư ở nhiều điểm là vậy, cách gọi danh xưng cũng đều quy về huyết thống, con cùng một người cha trên trời. Danh xưng toát yếu niềm kính trọng của người xưng hô.

 



[1] Thư của linh mục Gaspard Louis gửi bề trên cả Ḍng Chúa Giêsu Mutio Vitelleschi, đề ngày 17 - 12 -1621, bản dịch của nhà truyền thống Giáo phận T/p HCM.

[2] Hành tŕnh truyền giáo, A. de Rhodes, Hồng Nhuệ dịch, trang 57 - 58, tủ sách đại kết, 1994.

 

[3] Lịch sử giáo hội Việt Nam,tập 2, trang 168 - 169, Nguyễn Văn Trinh, ĐCV Thánh Giuse, 1994.

[4] Hành tŕnh truyền giáo, A. de Rhodes, Hồng Nhuệ dịch, trang 184, tủ sách đại kết, 1994.

 

[5] Lịch sử giáo hội Việt Nam,tập 2, trang 175, Nguyễn Văn Trinh, ĐCV Thánh Giuse, 1994.

[6] Thiên Chúa Thánh Mẫu, quyển trung, Giêrônimô Maiorica thuật. 1646, Tủ sách Hán Nôm Công Giáo.

[7] Croyances et pratiques relegieuses de vietnamiens, 1958, vol 1, page 76;  Léopold Cadière.

[8] theo Phái Văn Kiểm và phạm Đ́nh Khiêm viết trong Văn Hoá Nguyệt San, tháng 9 - 1959, được gả cho vua Chiêm Thành.

[9] Hành tŕnh truyền giáo, A. de Rhodes, Hồng Nhuệ dịch, trang 105 -106, tủ sách đại kết, 1994.

[10] Thiên hùng sử, trang 231, Trần an Bài, Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam, San Jose, 1990.

[11] Tài liệu Thiên hùng sử,  Trần an Bài, Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam, San Jose, 1990.

[12] Hành tŕnh truyền giáo, A. de Rhodes, Hồng Nhuệ dịch, trang 176 -180, tủ sách đại kết, 1994.

 

[13] Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài,A. de Rhodes, Hồng Nhuệ dịch, trang 195 -198, tủ sách đại kết, 1994.

[14] Đức cha Phêrô Maria Lambert de la Motte, Đấng sáng lập Ḍng Mến Thánh Giá, tài liệu của Toà Giám Mục Saigon.

[15] Nho Giáo, trang 123, quyển thượng, in lần thứ tư, nhà sách Tân Việt, Trần Trọng Kim.

[16] Kinh Đại Niết Bàn, Trường Bộ Kinh.

[17] Croyances et pratiques relegieuses de vietnamiens, 1958, vol 1, page 76; 

Léopold Cadière.