Chương
4: Thần
và Thánh của
Người Việt.
Thần linh Đất Việt không hẳn là những yếu tố vô h́nh, Thần biểu hiện là Trời thuộc cơi dương, linh biểu hiện người thuộc cơi âm; thần linh bao hàm hai lănh vực âm dương hài hoà, “trời ứng linh hành”. Thần linh v́ thế không hẳn là cơi vô h́nh, nhưng hiện thân là một con người có nguồn gốc thần linh, hoặc có khi là thần linh hóa nên người, hoặc là những con người thực sự là con người, giúp cho nhiều người gặp thấy phúc trong cuộc sống. T́m hiểu quan niệm về chữ Thần và Thánh trong dân gian, chắc hẳn sẽ không thể không nhắc tới lịch sử của một dân tộc, trong lịch sử ấy có cội nguồn và được giữ ǵn qua các triều đại, có những con người cụ thể từ hàng vua chúa cho đến một người nông dân. Có người được lịch sử ghi chép, có người được các thần phả và thần tích viết lại và cũng có người được truyền khẩu. Những lịch sử đời thường ấy, cách này hay cách khác được truyền lại cho hậu thế. Ai cũng có thể trở nên thánh, nếu cuộc sống của họ nên mối phúc cho làng hay dân tộc mà chính người ấy đang sống. Thần linh Đất Việt cũng không loại trừ những thần linh có nguồn gốc từ dân tộc khác, không có kỳ thị chủng tộc trong ư niệm Thần Thánh của dân gian. Thần thánh được phân biệt nhưng không chịu sự tách biệt.
Quan niệm thần và thánh. Quan niệm thần - thánh được xác lập trên nguyên tắc âm – dương của cách thức tư duy. Thần ngự trên trời nên mang sắc thái Dương, Thánh những người dưới đất được hiển thánh mang sắc thái Âm. Cặp phạm trù khác cũng mang nét đặc trưng tư duy Âm – Dương là Thần – Linh.
Đất Việt phôi thai trong nền văn hóa
nông nghiệp mang tính suy tư tổng hợp và thực
tiễn. Thần linh có tính chất huyền thọai
nhưng cụ thể, không nặng về siêu h́nh, có
những con người cụ thể và có những
đền miếu nhất định để tôn kính. Có
Đền, có miếu nên phải có thần tích mà lưu
truyền, mở hội. Những nơi không có thần tích
th́ cố vẽ lên, không viết được th́ nhờ
người giỏi chữ viết chế tác. Không có tích
th́ dân không tin, không thấy thần ấy là của ḿnh.
Nếu có dịp đi từ Bắc chí
Ư niệm thánh trong dân gian : “thường
phải là người hoàn thiện, hoàn mỹ, là chỗ
dựa tinh thần cho dân chúng”.
Thần có nguồn gốc Trời, có khi là thiên
thần, Thuỷ thần, Sơn thần, Long thần,
Thần cây, Thần đá, Thần đất. Thần
ở đây không bàng quan trước thảm cảnh
của dân chúng rơ nhất là trước hoạ xâm lăng.
Trước hiểm hoạ ấy, Thần có thể hoá
thân thành những con người cụ thể để
cứu vớt, đánh đuổi ngoại xâm. Khi yên b́nh
Đất Nước các Thần ấy lại bay về
trời, chứ không ở để hưởng lạc
trong thái b́nh. Quan niệm Thần cao cả ở đặc
điểm này, và ở đây cũng biểu lộ ḷng cao
thượng của hồn Việt “cho đi không
đợi đền đáp”. Thần không phải là
những chuyện hoàn toàn hoang đường,
thường các chuyện về Thần lại xuất
phát từ trong cuộc sống thường ngày, phác
hoạ lại nguồn gốc của con người và ư
nghĩa của cuộc sống con người. Nguồn
gốc Rồng cháu Tiên khởi đi từ nền văn
hoá sông nước, Rồng là vật tổ của
người Việt, rồng được h́nh
tượng hoá từ giao long, mà người Việt
xưa hay xâm trên ḿnh khi xuống nước, sinh sống
bằng nghề săn bắt thuỷ sản. Thánh là
những thần giúp cho con người sống trong cơ
cực có những cơ may thành tựu đạt được
ước mong hạnh phúc. Trong một đất
nước nông nghiệp, người dân sống nhờ
nhiều vào thiên nhiên, cuộc sống nhiều cơ
cực, loạn lạc và chiến tranh, quan niệm chữ
thánh cũng đơn giản như trong cuộc
đời của họ. Quan niệm về chữ
Thần và Thánh có khi ở trong nhau, đan quyện vào nhau,
không tách biệt nhau, có thể t́m hiểu qua các tích
được ghi chép trong những ngôi đền và
những câu truyện truyền khẩu quanh những mái am.
Nguồn gốc thần linh không xa lạ
với con người, có khi hiện thân là cây đa, viên
đá, luỹ tre, ḍng sông, ngọn núi, ngọn lửa,
rồng, rùa…hoá thân, đầu thai trong kiếp con
người, và có gốc thần linh. Những thần linh
trợ giúp người phàm trong những cơn nguy
khốn, dạy cho dân điều này điều kia. Các
thần lành cũng có những thần dữ nhưng
cốt yếu cũng để răn đe người
người tránh xa việc xấu mà làm việc tốt.
Năm vị Thần Đời Vua Hùng.
Chuyện kể rằng ở xă Cử Dương,
huyện Thường Phúc, phủ Thường Tín, xứ
Sơn Nam có một vị quan trường là Hùng Liên,
được Vua Hùng phong làm trấn thủ Sơn Nam,
vợ là Tạ Thị Loan người ở châu Bảo
Lạc. Hùng Liên 60 tuổi, vợ 40 tuổi mà chưa có con.
Sau khi lễ Phật cầu tự, đêm đó ông bà nằm câu mộng trước
hương án, nằm mơ thấy con rồng vàng diễu
quanh phu nhân ba ṿng, bà hoảng hốt tỉnh dậy kể
cho chồng nghe. Ông biết rằng đó là điềm
lành, dâng lễ tạ Phật. khi trở về bên bến
sông Kim Ngưu, băi Xích Đằng nghỉ chân, bà lội
xuống dưới sông tắm, đang tắm thấy có
con giao Long phun vào ḿnh bà một thứ dầu thơm kỳ
lạ. Bà thuật lại cho ông nghe, và ông biết rằng
thuỷ thần sẽ sinh ra từ con của bà. Ba ngày sau
bà thấy chuyển ḿnh, rồi cưu mang đến 11
tháng, giờ Dần mùng 10 tháng 3 năm Giáp Tư, bà sanh ra 2
người con trai tướng mạo kỳ lạ: sau
lưng có nhị thập bát tú nổi lên như vảy cá
chép. Ông Hùng Liên thuật lại cho Vua Hùng nghe, Vua Hùng cũng
nhận thấy sự lạ đặt tên cho ông thứ
nhất là Minh Lang, ông thứ 2 là Sát Hải tặng cho
đất Đổng Lư làm nơi thờ phụng sau này.
Hai ông lớn lên học rất mau, tinh thông hơn
người, giỏi văn vơ. Năm ấy có lụt
hồng thuỷ, hai ông được vua Hùng sai đi
trị thuỷ. Đến Đổng Lư, đêm đó hai
ông mơ đánh nhau với 3 viên tướng thuỷ
tề. Tỉnh cơn mơ, hai ông thấy 3 con giảo long
bị chém chết trôi trên sông, thế là nước rút,
trả lại đời sống yên lành cho dân chúng. Hai ông
ra về được phong cho trị nhậm đạo
Sơn Tây. Làng Đồng Lư có một người tên là Lê
Huân và vợ là Trương Thị Hoan, làm nghề trồng
dâu chăn tằm. Một hôm bà ngủ thiếp bên
nương dâu, nằm mơ thấy có 3 người con gái
đến nằm chung với bà, nói: “chúng con là con gái vua
Long Vương ở thuỷ cung xin đầu thai làm con
họ Lê”. Sau một tháng bà có thai, đến 15 tháng 8 sanh
một bọc có 3 cô con gái. Bà đặt tên cho 3 cô là Quế
Hoa, Quỳnh Hoa và Mai Hoa. Mười sáu tuổi, ba cô
đẹp như tiên, nữ công không thể chê trách,
chỉ có điều ba cô không nói. Một hôm hai ông tuần
du đến đây, thấy 3 người con gái
đẹp, mới lân la hỏi lai lịch, và gọi cô Mai
Hoa đến hỏi: “người ta sinh ra có miệng, có lưỡi,
tại sao mà chẳng nói chẳng rằng”. Ba cô liền
vụt nói: “Từ nơi thuỷ phủ giang trần, có
mồm c̣n đợi cố nhân tỏ bày. Mong nhau
mười sáu năm nay, gặp chàng mới biết có ngày
mai sau”.
Hai ông nghe nói liền tuyên bố với mọi
người: “Kiếp trước chúng tôi là con vua Thuỷ
tề Long Vương, ba cô này là vợ của chúng tôi”. Hai
cô quế Hoa và Quỳnh Hoa gả cho Minh Quân, c̣n cô Mai Hoa
gả cho Sát Hải Công. Sau ba năm trị nhậm sở
Sơn Tây có giặc Phương Bắc kéo đến, Vua
Hùng, lập tế đàn cầu trời, sau ba ngày ba
đêm, mưa kéo đến, xuất hiện một ông lăo
cao hơn chín trượng, Vua Hùng thân hành ra đón vào
Đàn Tràng và hỏi: “nay có
giặc ở phương Bắc đến xâm
lược, được thua ra sao, xin cụ chỉ
giáo”. Cụ già gieo quẻ và nói : Nếu t́m được
người này th́ giặc này chẳng đáng kể chi”.
Sau đó Vua Hùng cho t́m được Phù Đổng Thiên
Vương ra giúp nước. Vua Hùng sai hai ông cùng các vị
thần núi thần sông đem 12 vạn quân trợ
chiến. Hai ông cùng thiên vương chém được
Thạch Linh thần tướng ở chân núi Vơ Linh, quân
giặc thua tan đàn. Thiên Vương phóng ngựa về
núi Sóc Sơn, cởi chiến bào và bay về trời. c̣n hai
ông về tới Đồng Lư, gío lốc nổi lên và hai
ông trong cơn gió ấy cũng về trời cùng với
những người vợ của ḿnh. Sau gió tạnh
người ta không gặp hai ông và ba cô nữa, dân làng
lập Đền thờ các vị.
Cấu trúc của các câu truyện thần có
một lược đồ chung:
Xuất thân: Từ một gia đ́nh phúc hậu
nhưng hiếm con, vào một
thời điểm lịch sử giặc ngoại xâm hoành
hành,
Đầu thai: qua một giấc mộng
của bà mẹ tắm dưới ao, giao long cuốn hay
phun ngọc, dẫm vào vết chân lạ, sao sa vào bụng,
hiện thân về xin làm con…
Thời gian mang thai và sinh hạ: Dài ngày hơn
b́nh thường và sinh ra một bọc mấy đứa
hoặc trứng…
Thời thơ ấu của thần: Thông minh,
tuấn tú, kiều diễm, nết na, có nhiều hiện
tượng lạ khác người, không nói, lớn như
thổi…
Sự nghiệp: Giúp vua đánh đuổi
ngoại xâm, giúp dân làng khỏi những tai ương, khai
làng, lập ấp, chỉ giáo cho dân một nghề
nghiệp sinh kế…
Hành trạng: Có phép thần thông, khoẻ hơn
người, đi như gió như mây, lúc ẩn lúc
hiện…
Ngày Mất: khi hoàn thành sứ vụ các vị
thần biến mất. Gọi là ngày hoá: Bay về trời
trong một cơn lốc, biến h́nh hoá thân thành rắn,
thành con vật thiêng…
Các cốt truyện về thần đều có những nội dung tương tự như thế, khát mong của con người là hạnh phúc, thái b́nh; cũng vậy, một tâm tính cao thượng người Việt được biểu lộ là trọng sự hài hoà, an b́nh, biết quên đi chính ḿnh, trong các cốt truyện, kết thúc sứ mạng các vị thần tự biến mất.
3. Thánh
là những người có công dựng nước.
Hiếu đạo bắt nguồn từ
một tâm t́nh nhớ ơn sâu xa của người
Việt. Thưở sơ khai, tâm thức nhớ ơn này
được thần thánh hoá một cách rất thực
tiễn bằng những câu chuyện cụ thể. Dĩ
nhiên, trong mỗi cốt truyện không hoàn toàn
được hiểu theo nghĩa mặt chữ, nhưng
c̣n được hiểu là bức thư tín của
người trước gửi người sau một
sứ điệp cốt lơi quan trọng. Đọc
những trang sử như vậy, không chỉ đọc
dưới nhăn quan của nhà sử học nhưng c̣n
được nh́n bằng nhiều góc cạnh khác
để t́m ra sứ điệp trọng yếu cho
từng giai đoạn lịch sử.
Đền Kinh Dương Vương.
Kinh Dương Vương đặt tên
nước là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương
truyền ngôi cho Lạc long Quân, Lạc Long Quân kết duyên
cùng Âu Cơ đẻ ra trăm trứng, nở ra trăm
con trai, năm mươi con lên núi, năm mươi con
xuống biển. Kinh Dương Vương có công khai sáng
và công lao ấy được ghi nhận và tưởng
nhớ trong ngôi Đền Kinh Dương Vương
ở thôn Á Lữ, xă Đại Đông Thành, huyện
Thuận Thành, tỉnh Bắc ninh. Lăng và Đền được
xây dựng rất lâu đời, không rơ năm, chỉ
biết được năm trùng tu và đặt văn
bia, triều Minh Mệnh, năm thứ 21 (1840).
Thần phả Đ́nh Á Lữ có chép về
đức độ của Kinh Dương Vương:
“Kể từ khi Kinh Dương Vương, họ
Hồng Bàng nối dơi Thần Nông, huư lời con gái vua
Động Đ́nh, sáng rỡ đạo vợ chồng,
theo đúng người phong hoá, vua th́ lấy đức
cảm hoá dân, rủ áo khoanh tay, dân th́ cầy ruộng, làm
rẫy ra ngoài làm lụng, trở về th́ nghỉ ngơi,
chả phải là phong tục thái cổ của Viêm
Đế ư”. Thần phả cho hay một điều
cốt lơi: Người làm trên lấy đức mà cai dân,
th́ dân ấy được hưởng nhờ cảnh
thái b́nh, yên ổn làm ăn, dẫu có cực khổ vẫn
có lúc an nhàn nghỉ ngơi. Người Việt trọng
Đức và cũng trọng Tài. Người thánh là
người cả Đức và cả Tài đều song
toàn. Thánh nhân hơn người ở đặc
điểm ấy. Nếu Tài Đức song toàn, sử
không ghi chép th́ ḷng người cũng ghi chép cho ngàn năm
sau lấy đó làm gương.
Thần phả Đền Kinh Dương
Vương tại D́nh Á Lữ, c̣n ghi chép:
“Lạc Long Quân nối đời v́ Hồng Bàng
lấy con gái họ Âu Lạc mà có điềm lành sinh 100 con
trai, tổ của người Bách Việt thực chất
bắt đầu từ ấy, hưởng nước
trải nhiều năm, rất là lâu dài, đă giấu
thọ lại nhiều con trai từ xưa đến nay
chưa từng có, Hùng Vương nối nghiệp Lạc
Long, chăm ban tước họ để vỗ yên dân”.
Thánh là những người được có
hậu duệ nối dơi tông đường phúc
đức, được lâu dài và trường tồn.
Những triều đại an dân, phúc thịnh đều
được ghi nhớ và truyền tụng. Việt
Đền Mẫu Âu Cơ ở Hiền
Lương:
Thần tích có khi cũng nhằm giải thích
sự kiện: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy
rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Tinh thần
của người Việt là hài hoà, sự hài hoà giữa
các sắc tộc có chung một riềng mối, cùng
một gốc tổ, cùng một gia phả con rồng cháu
tiên.
Thần phả ghi lại: Lạc Long Quân cho ḿnh
là loài ở nước giống Rồng không ở măi
với Âu Cơ là giống Tiên, liền chia, cha dẫn 50 con
xuống trị nhậm các vùng sông bể, đầm
lầy vào tới tận Hoan Châu (Nghệ An), Bà Âu Cơ
đi ngược sông Hồng lên núi đi tới vùng Hiền
Lương (Xă Hiền Lương, huyện Sông Thao), th́
nghỉ chân. Bà thấy ở đây đất tốt,
người thưa mới lưu các con lại, dạy dân
lấy lửa đốt núi mà trồng lúa, các băi ven sông
Hồng th́ trồng mía trồng dâu. Bà Âu Cơ c̣n dạy dân
đào giếng lấy nước, không ăn nước
sông, nước suối, trồng dâu nuôi tằm, ươm
tơ dệt lụa, ép mía nấu đường, làm bánh
từ bột nhào với nước mía, chưng trên
nồi chơ, gọi là bánh Uôi. Khi dân Hiền lương
biết trồng lúa, trồng dâu dệt lụa, làm bánh, Âu
cơ để lại ở đó một người con,
rồi ngược sông Thao đi lên phía Bắc. Khi bà Âu
Cơ mất, người ta dựng một ngôi Đền
để nhớ công ơn của Bà, Đây là ngôi
Đền Mẫu đầu tiên trên đất Việt. Bà
cũng là Mẫu sớm nhất của người
Việt cổ, v́ bà sinh ra các vua Hùng những ông vua
đầu tiên khai sinh ra đất Việt. Mẫu Âu
cơ tượng trưng Đất Mẹ và là
người gốc tiên ở trên núi, Lạc Long Quân gốc
Rồng nên trị v́ miền nước. Theo quy luật âm
dương th́ ở đây có sự giao thoa theo cách
người Việt: “trong âm có dương và trong
dương có âm”. Cha Rồng là dương ở vùng sông
nước, mang sắc thái âm. Mẹ Âu cơ tượng
trưng đất Mẹ là âm nhưng lại cư ngụ
trên núi mang sắc thái dương. Trong Đền Miếu
nào ta cũng thấy sự hài hoà giữa âm dương này,
đây là sự biểu lộ tính cách ưa thích sự hài
hoà, dễ chấp nhận, trọng sự an b́nh, trọng
sự hoà hợp giữa người và người,
giữa người và vạn vật cũng như
giữa người và thần linh của người
Việt trong nhiều khía cạnh của cuộc sống.
Đền Vua Hùng:
Vị trí Đền Vua Hùng, đặt trên núi
Nghĩa Lĩnh, rừng Hy Cương, thôn Cổ Tích,
phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ ( VĨnh Phú).
Tích xưa đất Việt kể lại trong
nhiều sử sách, hơn 2000 năm cơ đồ an
b́nh, hưng thịnh, trải qua 18 đời vua Hùng,
tổ tiên Bách Việt. Truyền đến 5 đời th́
đến Chiêu Vương, vị vua có tiếng tài
đức song toàn, tôn kính thần linh, đóng đô ở
Việt Tŕ sông Bạch Hạc, đặt quốc hiệu
là nước Văn Lang, thủ đô là thành Phong Châu.
vị trí Đền Vua Hùng, đặt trên núi Nghĩa Linh,
nh́n về phía Đông là dăy núi Tam Đảo thuộc hai
tỉnh Vĩnh Yên và Thái Nguyên. về phía
Cấu trúc của Đền Vua Hùng là một
cấu trúc biểu lộ tâm hồn tôn giáo của
Đất Việt, một cách điển h́nh, mỗi công
tŕnh đặt để một huyền nhiệm của
ḍng lịch sử chảy trôi, người đến
viếng nơi đây đều có một cảm nghĩ,
nối thực tại với người xưa. L. Cadière
có lần nhận xét: “phải thừa nhận rằng
người Việt nói cho đúng sống trong thế
giới siêu nhiên. Đại thể th́ người Châu Âu
khó mà hiểu được trạng thái siêu nhiên này,
nơi người Châu Âu tôn giáo đôi khi chỉ là một
vài tin tưởng, một vài thực hành, thường chi
phối họ trong một khoảng không gian hay khoảng
thời gian trong một ngày sống, một phần nhỏ
trong hoạt động. Người Châu Âu vốn sùng
đạo, nhưng thường vẫn không sống
thường xuyên với Thượng Đế của
ḿnh. Người Việt th́ không thế, ngoại trừ
một số người hấp thụ nền văn minh
tân tiến, dù ở giai cấp nào đều cảm
thấy ḿnh đang sống chung với thần thánh trong
thiên nhiên, những thần thánh luôn hoạt động
với loài người và đảm bảo thành quả
nỗ lực của con người. Trong sự may rủi
xảy đến, nhất là điều rủi,
người Việt luôn thấy rằng mọi việc
đều biểu lộ sự can thiệp của tổ
tiên hay thần thánh”.
Công tŕnh Đền Hùng được cấu
trúc thành ba tầng:
Từ cổng Đại Môn người ta
sẽ thấy ngay hàng Đại Tự bằng chữ Hán “cao Sơn cảnh Hàng”,
dưới chân núi là Đền Lớn. Vượt 225
bậc xi măng, chúng ta sẽ thấy Đền Hạ,
nơi mà xa xưa bà Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng,
nở ra thành một trăm người con trai. Ư niệm
người xưa đông con là có phúc.
Vượt lên 168 bậc nữa là Đền
Trung, là nơi xưa kia Vua Hùng thường lui tới cùng
các lạc tướng để bàn việc nước.
cũng nơi này Lang Liêu đă dâng vua cha những chiếc
bánh chưng và bánh dây, tượng trưng cho triều
đại vuông tṛn và cũng tượng trưng cho sự
kiện trời đất chứng giám cho ḷng thành của
người con.
Vượt lên 102 bậc nữa, gặp
Đền Thượng, nơi đây ngày xưa vua Hùng cùng
các quan thần, lăo làng lập tế đàn cầu xin
trời đất, cầu xin vị thần nông cho mùa màng
tươi tốt. đây cũng là nơi vua Hùng thứ 6
lập Đền thờ Thánh Gióng, sau khi đánh
đuổi giặc Ân, cạnh ngôi Đền có ngôi làng
nhỏ và ngôi mộ cổ kính là Mộ Tổ. trước
Đền chếch về bên trái có cột đá cao trên 100
mét, đường kính khoảng 30 cm, theo truyền
thuyết là cột đá thề. Tục kể rằng An
Dương Vương khi lên ngôi vua đă thề ǵn
giữ giang sơn của vua Hùng trước vong linh tiên
tổ.
Từ Đền Thượng nếu phóng
tầm mắt nh́n ra xa, có thể thấy 99 ngọn núi
lớn nhỏ, h́nh dáng giống như bầy voi quỳ
hướng về núi Mẹ, riêng một con bị mất
đầu v́ “ăn ở ra ḷng tư riêng”, măi măi bị
tách ĺa bầy đàn. Đây cũng là bài học từ ngàn
xưa để lại “Đoàn kết th́ sống, chia
rẽ th́ chết.
Thiết tưởng vùng đất này đă
trở nên vùng đất thiêng thánh của Đất
Việt, nơi mà hầu hết những người con
Đất Việt đều hướng ḷng về khi
ngày lễ giỗ tổ “Mùng Mười Tháng Ba”. Gốc
của Đạo Hiếu có lẽ cũng là đây,
chỉ riêng tỉnh Vĩnh Phú đă có hơn 700 nơi
thờ vua Hùng và ḍng dơi cùng tướng lĩnh.
Chữ Thần Thánh trong
Đền Vua Hùng này, cho thấy:
Ḷng ngưỡng mộ tri ân “uống
nước nhớ nguồn” lớn lao là vậy,
điều đó nhắn nhủ với con cháu ǵn giữ
lấy Đất Nước này, như cột đá
thề đă từng chứng giám An Dương
Vương đă tuyên thệ trước vong linh tổ
tiên. Phản bội lại lời thề sẽ giống
như con voi mất đầu xa bầy riêng lẻ, măi măi
là kẻ cô độc, không nguyên vẹn h́nh hài.
4. Thánh
là người có công giữ nước.
Rất nhiều những vị vua, tướng
lĩnh cũng như quan lính được ghi nhớ vào
hàng thần thánh. Không kể nam nhi hay nữ nhi. Ḍng lịch
sử ghi nhận, Lạc Long Quân chinh phục thủy quái,
cáo chín đuôi, mộc tinh. Hùng Vương thứ 6 đánh giặc
An, An Dương Vương đánh Tần . Triệu
Đà, Hai Bà Trưng đánh
Đông Hán. Lư Bí Triệu Quang Phục chống Lương,
Mai Hắc Đế. Phùng Hưng chống nhà
Đường. Ngô Quyền chống Nam Hán. Nhà Lê các vua Lư
chống giặc Tống. Trần Nhân Tông chống Nguyên - Mông, Lê Lợi chống
giặc Minh. Quang Trung chống giặc Thanh. Lịch sử
không thiếu những bậc vua v́ dân v́ nước và
cũng không thiếu các tướng lĩnh giúp vua như:
Phù Đổng Thiên Vương thời Vua Hùng thứ 6, Lư Ông
Trọng thời An Dương Vương. Thánh Thiên, Bà Lê
Chân, Vũ thị Phục thời Hai Bà Trưng, Lư Phục
Man thời Lư Nam Đế; Trương Hống,
Trương Hát, Triệu chí Thành thời Triệu Việt
Vương. Lư Thường kiệt thời Lư, Trần
Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lăo
thời Trần; Trần Nguyên Hăn, Lưu Nhân Chú thời Lê;
Vũ Đ́nh Huấn thời Quang Trung. Ngoài ra c̣n có các quan
văn có nhiều công lao được tôn kính như
Tống Trần thời Triệu Việt Vương, Lư
Đạo Thành, Tô Hiến Thành thời Lư; Chu Văn An, Nguyễn
Biểu thời Trần, Nguyễn Trăi, Nguyễn Thị
Lộ thời Lê, Ngô Thời Nhậm thời Quang Trung.
mỗi thời đều có nhân tố được tôn
kính và là tinh hoa của từng triều đại. Không
thiếu những thánh nhân trong đời sống.
Trưng Vương.
Làng Hạ Lôi nằm bên trong đê tả
ngạn Sông Hồng, thuộc huyện Yên Lăng, tỉnh
Vĩnh Phúc, nay là Xă Mê Linh, huyện Mê Linh, Thành Phố Hà
Nội. Theo thần phả của làng Hạ Lôi,
trươc đây làng có tên là Cổ Lôi trang, là làng của
người Việt Cổ. Hai Bà Trưng, sinh ra trên
mảnh đất này, ở Xóm Đường, trang
Cổ Lôi. Cha là Lạc tướng của Mê Linh, danh tánh là
Hùng Định, mẹ là Trần thị Đoan. Hai bà
chịu cảnh cha mất sớm, ḿnh bà mẹ ở
vậy nuôi con, bà mẹ là người có tài và trọng
đức, bà đă giáo dục hai con của ḿnh theo tinh
thần thượng vơ, đức hậu.
Trưng Trắc lớn lên là người tài
sắc, bà kết duyên cùng Thi Sách, con trai của Lạc
tướng Chu Diên.
Hoàn cảnh đất nước thời
bấy giờ chịu sự lệ thuộc vào nhà Đông
Hán, từ năm Kiến Vũ thứ 10 (Nhà Hán), Tô
Định làm quan thái thú Giao Chỉ. Mă Viện có lần c̣n
nói thật về con người của Tô Định: “Tô
Định giương mắt lên v́ tiền”. Không sai,
người Trung Hoa muốn xoá sổ dân tộc Việt
Nam, xoá bỏ tên gọi, sát nhập thành một quận
của Trung Hoa, gọi là quận Giao Chỉ. Nỗi
nhục v́ mất nước, nỗi khổ v́ trở thành
thuộc địa, cái đau của những con
người bị áp bức đă khiến nhiều nơi
nảy lên những cuộc đấu tranh. Máu của
người Việt đă đổ khắp nơi. Thi Sách
chồng bà Trưng Trắc cùng với em trai ḿnh là Thi Huy và
nhiều người khác cùng chuẩn bị khởi
nghĩa. Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị cũng giúp
chồng tuyển quân, chuẩn bị binh lương. Công
việc bị lộ, Thi Sách, Thi Huy và nhiều người
trong cuộc khởi nghĩa bị giết chết.
Đứng trước thảm cảnh đó,
tháng 2 năm 40, Hai Bà Trưng phất cờ khởi
nghĩa ở sông Hát. Nghe tiếng Hai Bà Trưng khởi
nghĩa, nhiều tướng lĩnh ở những
cuộc khởi nghĩa âm ỉ khắp nơi, tuôn về
đứng dưới lá cờ chiến đấu
của Hai Bà. Ở Hưng yên có Trần Thị Mă Châu, xă
Quảng Châu (Tiên Lữ), Trần Lữ ở trang Đào
Đầu (Tiên Lữ), Nguyệt Thai, Nguyệt Độ
ở Hải Dương, Lê Chân ở Hải Pḥng,
Đỗ Năng Tế ở Hà Đông – Sơn Tây, Lê
Thị Hoa ở Thanh Hoá, Thiều Hoa, Vũ Thị Thục
ở Phú Thọ…Hai Bà Lập đàn thề ở Hát Môn
tế cáo trời đất lời thề: “Một xin
rửa sạch nước nhà, Hai xin đem lại
nghiệp xưa họ Hùng. Ba, kẻo oan ức ḷng
chồng. Bốn xin vẹn vẹn sở công lênh này. Sau
lễ tế, từ sông Hát những chiến sĩ lên
đường đánh tan những thành tŕ của giặc.
Tại thành Luy Lâu của Tô Định đóng quân, Tô
Định đă bỏ cả ấn tín, vàng bạc,
vặt râu, thay áo, chui qua lỗ chó, bỏ chạy thoát
thân mà về Nam Hải (Quảng
Đông). Dẹp xong giặc bà
Trưng Trắc lên làm vua, đóng đô ở Mê Linh, xá
thuế cho dân trong 2 năm, cắt cử các tướng
quân đi chiếm lĩnh các thành tŕ. Về cuộc
khởi nghĩa này, sử gia Lê văn Hưu, thế
kỷ thứ XIII viết : “Trưng Trắc, Trưng
Nhị là đàn bà hô một tiếng mà cả Cừu Chân,
Hợp Phố và 65 thành ở Lĩnh Nam đều
hưởng ứng. Bà dựng nước, xưng
vương dễ như trở bàn tay. Như thế th́ thấy
h́nh thế đất Việt ta có thể được
cơ nghiệp bá vương”. Chẳng những chính
sử đă ghi chép mà cón thấy lịch sử Trung Hoa cũng nói tới
người nữ anh hùng này.
Hán Quan Vũ không cam phận chịu mang nỗi
nhục thua dài trước nữ nhi của đất
Việt, đă hạ lệnh cho các quận huyện ở
Hoa Nam sắm sửa thuyền bè khí giới, xe cộ, xua
quân vào tái chiếm Giao Chỉ. Hán Vương phong cho Mă
Viện làm Phục Ba tướng quân, đem 20.000 quân, 2.000
chiến thuyền sang đánh. Mă Viện theo
đường Lạng Sơn đă bị nữ
tướng Thánh Thiên và các tướng khác đánh cho
đại bại, chạy về Trung Quốc. Từ
Hợp Phố qua Khâm Châu, Pḥng Thành vượt biên giới
tới Đông Hưng (Trung Quốc). Từ đây Mă
Viện chia thành hai cánh quân thuỷ và bộ rồi
vượt sông Ka Long sang Móng Cái, Tiên Yên, Ḥn Gai rồi theo
đường bộ và đường biển vào sông
Bạch Đằng hợp đầu quân Ở Lục
Đầu Giang, Phả Lại.
Hai Bà Trưng lập pḥng tuyến ở Lăng
Bạc, một vùng đất trũng giữa hai bờ
sông Cầu từ Đông Triều đến Yên Phong.
trận đánh dữ dội, quân của Hai Bà chết
khoảng 10.000 quân, cuộc chiến kéo dai gần một
năm th́ quân Hai Bà tan ră. Bà Trưng Vương bị
tử thương, các tướng sĩ quyết đánh
giải vây đem xác Bà về an táng tại khu vực Đền Hùng.
Voi của Trưng Nhị cũng bị quân
giặc đâm chết. trước t́nh thế nguy biến
không để giặc bắt làm nhục bà Trưng Nhị
đă gieo ḿnh xuông sông Cẩm Khê tự tử. dân chúng ở
ven sông Nguyệt Đức vớt được giải
yếm, giải áo của bà Trưng Nhị lập miếu
thờ bà ở Xuân Đài, miếu Gia Phú, làng Cẩm Viên
xưa có hai mộ Ông Voi.
Dân chúng tại quê Hai Bà ở Hạ Lôi lập
Đền thờ trên nền nhà cũ của Hai Bà. H́nh
thế của đất Đền mang h́nh chim Diều Hâu
đang dang cánh, tương truyền được xây
dưng từ thời Đinh Tiên Hoàng.
Người Việt tin rằng bao lâu c̣n
Đền miếu thờ các anh hùng bấy lâu Đất
Nước c̣n. Và lịch sử đă minh chứng cho
niềm tin ấy.
Bà Lê Chân.
Một nữ tướng xuất thân từ
làng An Biên, (nay thuộc huyện Đông Triều, tỉnh
Quảng Ninh), con của cụ Lê Thái Bảo, không chịu
cúi đầu làm tỳ thiếp cho Tô Định, đă
bỏ trốn ra cửa biển (Hải Pḥng), khai hoang,
lập trại, lấy An Biên quê bà đặt tên cho
trại. bà thu hút nhiều người tài giỏi, xây
dựng trại An Biên thành căn cứ quân sự và
cũng là nơi sản xuất nhiều lúa gạo, cá
mắm…đóng chiến thuyền.
Giặc Đông Hán thấy có nhiều tin loan
truyền về trại An Biên, nên cho quân đi do thám và bao
vây. nữ tướng Lê Chân trong t́nh thế ấy phát
lệnh khởi nghĩa. giặc rất sợ uy danh
của bà, và gọi bà là: “Con cá Ḱnh biển Đông”. Mùa Xuân
năm 40, Bà Lê Chân đem quân ra cùng với Hai Bà Trưng đánh
chiếm nhiều thành luỹ của giặc. tại Luy
Lâu, quân của Bà Lê Chân hợp lực cùng quân của Hai Bà
Trưng đánh tan Tô Định. Sau trận đánh này, Hai
Bà Trưng phong cho bà lê Chân làm chức “Chưởng quản
binh quyền nội bộ” và giữ trại An Biên làm
nơi trấn thủ vùng biển.
Thua Mă Viện bà
Trưng tử trận ở sông Hát, Bà Trưng Nhị
tuẫn tiết ở sông Cẩm Khê, Bà Lê Chân rút quân về
Lạt Sơn, là vùng núi non hiểm trở, bà đă lấp
suối, ngăn sông, chặn đánh thuỷ quân giặc
Hán. Sau khi đánh bại các tướng lĩnh khác Mă Viện
tập trung quân bao vây căn cứ Lạt Sơn. Trong
trận huyết chiến ngày 25 tháng chạp năm 43, bà Lê
Chân đă hy sinh.
Nghe tin Bà tử trận, dân chúng tại trại
An Biên lập bài vị, miếu thờ. Ban đầu
miếu là mái tranh măi đến năm 1919 mới xây
dựng thành Ngôi Đền Nghè lớn như ngày nay.
Hằng năm dân chúng mở Hội 3 ngày:
Ngày 8 – 2 là ngày sinh.
Ngày 15 – 8 là ngày thắng lớn.
Ngày 25 – 12 là ngày hy sinh.
Thái Uư Lư Thường Kiệt.
Lư Thường Kiệt tên thật là Ngô
Tuấn, sinh năm 1019, quê phường Thái Hoà, Thành
Thăng long. Là một con người chí khí, say sưa thánh
hiền. Triều Lư Thái Tôn ông được phong chức
Hoàng Môn Chi hậu, mấy lần được thăng
chức Đô tri ở Nội Sảnh, Lư Thánh Tông phong cho
ông làm Thái Bảo, trao cho Tiết Việt. Năm Thiên
Hướng Bảo Tượng thứ 2 (1059) trước
việc Nhà Tống viện trợ cho vua Chế Củ, vua
nước Chămpa để đưa quân sang đánh
miền Nam nước Đại Việt, và quân Tống
đánh phía Bắc. Trong t́nh h́nh đó, Lư Thường
Kiệt cùng vua Lư Thánh Tông đem quân đi đánh Chămpa
để dẹp tan thế liên minh đó, bắt
được Chế Củ vua nước Chămpa,
Chế Củ phải cắt ba đất: Bố Chính,
Địa Lư, Ma Linh (Quảng B́nh và Bắc Quảng
Trị) cho nhà Lư.
Do công lao ông được phong là Phụ
quốc Thái Phó và nhận chức Tiết Độ cho các
trấn xa, đồng trung thư môn hạ, Thiên Tử
Nghĩa Đệ Phụ Quốc Thượng
Tướng quân, Khai quốc Công.
Năm 1072, Lư Thánh Tông băng hà, Lư Nhân Tông
mới 7 tuổi lên thay, vua Tống coi đó là thời
cơ đánh Đại Việt. Vua Tống tập trung
quân đánh ở 3 châu :Ung, Khâm liêm để xâm lược
Đại Việt. LưThường Kiệt chủ trương
tấn công giặc trước. Kế sách của Lư
Thường kiệt là dương Đông kích Tây.cuối
táhng 9 năm Ất Măo (10- 1075) Tống Đản
vượt biên giới đánh phá năm liên trại. Lư
Thường kiệt chỉ huy 60.000 quân vướt
biển đánh vào Nhà Tống. Lư Thường Kiệt chia
quân thành hai cánh đánh Khâm Châu và Liêm Châu. Tướng Tống
là Trần Vĩnh Thái phải xin hàng, tướng Lỗ
Khánh Tồn ở Liêm Châu bị hạ. Ngày 4 tháng giêng
năm Bính Th́n (11 – 2 -1076, quân ta bắt được trên
10.000 binh sĩ Nhà Tống, Trương Thủ Tiết
chỉ huy cánh quân này bị giết chết. Ngày 1 tháng 3
năm 1076, sau 41 ngày Đại Việt hạ được
thành Ung Châu. Biết quân Tống sẽ có âm mưu xâm
lược trở lại, Lư Thường Kiệt cho quân
đi do thám, biết rơ quân Tống sẽ đưa 10.000
bộ binh, 1.000 ngựa và 20.000 dân phu. Cuối năm 1076
quân Tống tràn vào Nước ta, trấn thủ ở
dọc sông Cầu không cản ổi quân Tống, Quách Quư
tướng của nhà Tống cho bắc cầu phao
vượt sông để chọc thủng pḥng tuyến
Sông Như Nguyệt, một cánh quân đă tiến về
Thăng Long, Lư Thường Kiệt tổ chức phản
công, quân Tống bị thiệt hại nặng, rút chạy
về phía Bắc sông Cầu. Hai Ḥang Tử Hoàng Chân và Chiêu
Văn dùng 400 chiến thuyền đánh sang bờ Bắc
đều bị hy sinh. Lư Thường Kiệt dẫn
đại quân đánh thốc sang bờ, quân Tống
đại bại. Giữa lúc đánh tại trại
giặc th́ từ Đền Trương Hống,
Trương Hát ở bờ
Sau khi giặc Tống tan, năm đầu Long
Phù (1101) ông được thăng lên chức nội
thị phán thủ đô áp nha, coi tất cả công việc
trong ngoài điện. Ông c̣n dẹp yên loạn Lư Giác, và
giặc Chiêm, sau đó năm thứ 5, ông mất,
được tặng nhập nội điện đô
tri kiểm hiệu Thái Uư, b́nh chương quân quốc
trọng sự, tước Việt quốc Công và thực
ấp vạn hộ.
Lư Thường kiệt được dân chúng yêu mến nhờ tài binh thao và chí khí kiên cường, đứng đầu các tước hầu. Ông được phong thần và dân chúng lập Đền thờ ở quận Đống Đa, Hà Nội.
5. Thánh
những người chân đất.
Hai cuốn sách ghi chép những sự tích có tính
truyền thuyết nhất là cuốn “Lĩnh Nam chích quái”
và cuốn “Việt Điện u linh”, có thể t́m thấy
những dấu vết của các thành hoàng. Ngoài ra,
những thần tích, phần lớn do Nguyễn Bính
(Thế kỷ 16) và Nguyễn Hiền (Thế kỷ 18)
soạn, nhưng dân chúng vẫn cứ thành kính tin rằng
đó là sự thật - một sự thật không có trong
thực tế nhưng có trong tâm linh. Những thần tích
được Nguyễn Bính soạn thảo
được nhà vua phê chuẩn và gửi về cho các làng
và các làng khi đón nhận về th́ mở hội và
đưa vào Đền Miếu của ḿnh. Ngoài những
thần tích của Nguyễn Bính và Nguyễn Hiền biên
soạn, một công lao khác nữa cũng cần
được nhắc tới, đó là những
người trí thức ẩn ḿnh sau luỹ tre làng, âm
thầm chế tác. Thần tích xét về mặt tâm linh có
những ảnh hưởng nhất định của nó
trong đời sống dân chúng, đó là phác hoạ con
đường hướng thiện cho nhiều
người đi theo, phản ảnh cái đẹp trong
cuộc sống từ trong suy nghĩ đến hành
động.
Thánh có khi là những người nông dân, không có
sắc phong của triều đ́nh, không có chiến công
hiển hách chống ngoại xâm hay lập làng lập
nước. Họ là những người chân đất
thật sự, không có ǵ ngoài cuộc sống b́nh dị
của họ, thuỷ chung và sống thiện và trở nên
thấn thánh. Dân gian lại tin rằng những
người b́nh thường, càng tầm thường khi
hiển thánh lại càng thiêng.
Vợ chàng Trương.
Xưa ở Huyện Nam Sang thuộc tỉnh Hà
Nội, nay là thôn Vũ Điện, xă Chân Lư, Huyện Lư
Nhân, tỉnh hà Nam có người con gái tên là Vũ Thị
Thiết có nhan sắc nết na, lấy người
chồng cùng làng tên là Trương Sinh. Tính người
ấy hay nghi hoặc, nàng thấy chồng như thế
càng giữ ǵn ư tứ. Vợ chồng lấy nhau chưa
được bao lâu nàng ấy có thai, chưa
được bao lâu th́ chồng đi lính đánh giặc
Chiêm. Sau đó nàng sinh được một người
con trai đặt tên là Trương Đản, nuôi con
lớn khôn đến khi bập bẹ biêt nói, Đản
thường hay hỏi: “Bố đâu?”. Nàng chẳng
biết thế nào giải thích cho con hiểu là bố
đi lính, nàng chỉ vào bóng của ḿnh trên vách và nói:
“Bố con đấy”. Chú bé tin điều ấy là
thật nên mỗi tối khi thắp đèn lên, Đản
lại ra mon men chơi với bố.
Vài năm sau tan giặc Chiêm, Trương Sinh
được giải ngũ về nhà, Trương Sinh
muốn ẵm con ra nghĩa trang viếng mộ mẹ,
đứa bé dăy nảy lên không nhận Trương Sinh là người
cha nó, nó nói: “Không phải bố, đến tối bố
mới về!” Trương Sinh hỏi kỹ hơn,
đứa bé trả lời: “Bố tôi không biết nói, ông
không phải là bố tôi”. Trương Sinh hỏi
đứa con h́nh dạng người bố ra sao,
đứa trẻ trả lời: “Đêm nào cũng thấy
bố tôi về, mẹ tôi đi th́ bố cũng đi,
mẹ tôi ngồi, bố tôi cũng ngồi, mẹ tôi
đứng, bố tôi cũng đứng”. Trương Sinh
nghi ngờ vợ trong khi ḿnh vắng nhà đă ngoại t́nh
với người khác, vợ thanh minh sao cũng không
chịu và cả hàng xóm khuyên thế nào chàng Trương
cũng không nghe. Uất ức cho t́nh ngay mà lư không ngay,
vợ chàng Trương nhảy xuống sông Hoàng Giang
tự vận. Đến tối chàng Trương về
nhà, th́ đứa con chỉ vào vách tường reo lên:
“Bố tôi đến ḱa”. Chợt tỉnh chàng Trương
đă hiểu trong những ngày chàng đi vắng vợ
ḿnh thường chỉ vào vách tường theo bóng của
ḿnh mà nói với con là bố của nó. Ân hận cho việc
cố chấp hiểu sai về vợ ḿnh, chàng lập
đàn giải oan cho vợ bên bờ sông Hoàng Giang. Sau 3 ngày
3 đêm, chàng bỗng thấy 90 cỗ xe, cờ quạt
rợp bóng nổi lên giữa sông, có nàng thiếu phụ nói
rằng: “Giă ơn chàng có ḷng giải oan cho tôi, nhưng mà
đấng thượng đế thương tôi là
người tiết nghĩa đă cho tôi ở trê cung tiên”.
Nói dứt th́ nàng biến mất. dân chúng thương
nhớ người thiếu phụ tiết nghĩa,
thuỷ chung v́ hiểu lầm mà chết oan, nên lập
miếu thờ bên bờ sông Hồng ấy. Quanh năm có
nhiều người đến miếu thắp nhang
tưởng nhớ.
Qua các tích phong thần, người ta thấy
chung có những giá trị riêng biệt truyền thống
được duy tŕ qua những nhân vật thật
hoặc không thật:
Hiếu Đạo: Quế Hoa, Lang Liêu, Ngũ
Vị Đại Vương Phúc Thần, Đào An, Đào
Ư , Quách A – người con gái của Ngă ba Bạch Hạc...
Người có ḷng nhân: Đinh Dương Công,
Nguyệt Tinh Công Chúa, người Họ Đặng huư là
Cẩn, vợ là Phụng Thị, người Họ Hoàng
và Vợ người Họ Phạm, Phạm Hồng và
vợ là Hoàng thị Khanh… một việc xấu dù nhỏ
vẫn không làm, một điều thiện dù nhỏ
vẫn cố gắng; tu thân tích đức để viên
tṛn quả phúc.
Thuỷ chung: Mỵ Châu, vợ chàng
Trương…
6. Thành
Hoàng một tín ngưỡng.
Ư nghĩa của từ ngữ:
Thành Hoàng là tên gốc từ Hán Việt: “Thành” là
cái thành, “Hoàng” là cái hào đào sâu chung quanh cái thành để
bảo vệ cái thành ấy, “thần hoàng” là vị
thần coi giữ bảo tŕ cho làng hay thành. Sử dụng
từ ngữ này ở Việt
Cộng đồng sinh sống cơ bản
của người Việt xưa là làng, xuất hiện
do văn hoá nông nghiệp là văn hoá cộng đồng,
đồng cảm, đồng mệnh “Một con ngựa
đau, cả tàu bỏ cỏ” . Đ́nh làng là trung tâm
của đời sống cộng đồng làng xă, là
nơi hội họp của các hương hào cũng như
dân làng, nơi xử kiện, nơi thờ vị thành
hoàng, mở lễ hội của làng… Trong mỗi Đ́nh
làng đều thờ một vị thành hoàng nào đó
của một làng. Không phải làng nào cũng là chiếc
nôi sản sinh ra các anh hùng dựng nước và giữ
nước, nên đă từng có những hội nghị
làng để chọn vị thành hoàng cho làng, hoặc
thờ chung một vị thần cho nhiều làng. Có
thể kể ra rất nhiều vị thần
được thờ chung cho nhiều làng như:Lạc
Long Quân, Ỷ Lan, Thánh mẫu Liễu Hạnh, Thánh Gióng,
Thánh Trần… Tuy có sự thờ chung thần nhưng
thần tích của mỗi làng lại mỗi khác, tuỳ
theo sự thêm thắt cho thêm sắc thái của vị
thần làng. Có những nhân vật thần hoàng không có ghi nhận
trong lịch sử dân tộc, nhưng cho biết một
điều khác mà tâm t́nh chung muốn diễn tả:
Mọi địa phương muốn đóng góp vào
việc dựng xây đất nước bằng những
tài năng cao quư nhất của làng ḿnh. Điều ấy
cho thấy tâm hồn tôn giáo người Việt xưa, là
gắn bó với tổ tiên, gắn bó với cội
nguồn Đất Mẹ. “Thần hoàng” là những con
người lịch sử chiếm đa số và phổ
biến nhất ở Đồng bằng Bắc Bộ.
Thí dụ, riêng ở Bắc Ninh thống kê được
có 600 vị thần hoàng, th́ đă có 496 vị là nhân
thần có tính cách lịch sử.
Các nhân vật lịch sử được thờ nói lên một bài học yêu nước của dân tộc, trải qua nhiều thế hệ, từ lập nước đến giữ nước, triều đại nào cũng có những anh hùng trên những mảnh đất nhất định. Ḷng yêu nước được lưu truyền theo tín ngưỡng thần hoàng là bài học nhắc nhớ lâu bền nhất trải qua thời b́nh trị cũng như thời chiến.
7. Thần Hoàng có nguồn gốc thiên thần:
“Thiên” có nghĩa là trời, được nhân
hoá hay chưa được nhân hoá, có những đặc
điểm như:
Thống lĩnh Hào Quang, Tích Lịch Hào Quang
(Thần Hào Quang) thờ ở thôn Đông Khê, Pháp
Thượng, Thuỵ Ứng thuộc Đan Phượng.
có trường hợp các vị thần Hào Quang đă
nhập vào lá phướn của Đạo Phật.
Thành Hoàng là Tứ Pháp (Sấm, chớp, mây
mưa) được thờ ở nhiêu lưu vực sông
Hồng. Có địa phương, thờ Ngũ Lôi,
biến dạng từ Tứ Pháp: Nhất Phong, Nhị
vũ, Tam vân, Tứ Diện, Ngũ Lôi thờ ở Hạ
Kỳ, Nghĩa Hưng (Nam Định).
Thành Hoàng là một số v́ sao: Nam Tào, Bắc
Thần, thờ ở An Điều – Đan Phượng –
Hà Tây, Nữ thần Sao Sa (thôn Duyên Lăng - Trực Ninh, Nam
Định) hay Tam Tinh Đại Vương
được thờ ở Đinh Nội thôn Đ́nh Xá
(Chương Mỹ - Hà Tây).
Các vị tiên, các thần linh trong Đạo
giáo, cao nhất có Ngọc Hoàng (Nam Phong, Nam Trực), Tề
thiên, Thiên quan Đại Vương (Nam Diện, Nam
Dương, Nam Trực) các Thánh Mẫu trong Tam phủ,
Tứ phủ, Tứ vị Thánh Vương Mẫu
Liễu, Chủ Đồng Tử - Tiên Dung – Tây Sa…
Nh́n chung, người Việt trong khi tiếp xúc
với các nền văn hoá có tính dung hợp các tôn giáo, có
thời Tam giáo đồng nguyên, Tam giáo Đồng Quy,
đến thời có một tôn giáo hoàn toàn Việt Nam ra
đời, tổng hợp từ Phật Giáo và Đạo
ông bà làm nên Phật Giáo Hoà Hảo. Đạo Cao Đài là
biểu lộ rơ nhất tính tư duy tổng hợp
của người Việt
Thành Hoàng có nguồn gốc nhiên thần: Theo tính
chất của văn hoá nông nghiệp, cặp phạm trù
cơ bản là Âm – Dương, khởi đi từ vũ
trụ luận nguyên sơ của Đông Phương là
Sơn - Thuỷ, Đất - Nước, tương
khắc và tương sinh, có khía cạnh song đối, con
người sống được là nhờ sự hài hoà
của trời đất, sông núi này. Thánh nhân là người
sống sự hài hoà giữa trời và đất này ở
trong ḿnh.
Việc bảo trợ của các vị thần
có sơn thần và thuỷ thần: Sơn thần có
những vị như: Cao Sơn thần, Cao Sơn
Đại Vương, Quư Minh Đại Vương, Cao
Sơn Quư Minh, Sơn tinh, Cao Hiểu, Cao Khánh, Miêu sơn
Kiều Lộ, Tản Viên thân…Thuỷ thần có những
vị như Long Vương, Đại Càn, Tan Giang,
Đông Hải Đại Vương, Thuỷ Tề
Đại Vương, Trương Hống – Trương
Hát được thờ ở 316 đền dọc
bờ sông Như Nguyệt, Tổng Hậu… gắn với
các vị thuỷ thần thường có những thần
mang xác loài vật như : Rắn, Rùa, cá, baba, Rồng…
Thành Hoàng có nguồn gốc Nhân Thần: Nhân
vật có lịch sử như Hai bà Trưng, Ngô Quyền,
Trần Hưng Đạo, Nguyễn Công Trứ, Lư
Thường kiệt, Nguyễn Trăi…Những vị thần
có tính huyền thoại như Vua Hùng, An Dương
Vương, cao Lỗ, Triệu Quang Phục, …qua các nhân
thần mà các Đ́nh làng thờ kính cho thấy,
người Việt rất yêu Nước, ḷng yêu
nước ấy trở thành linh thiêng của hồn dân
tộc.
Thành hoàng có nguồn gốc Tổ sư
nghề: Vũ Quan, là tổ nghề nón và áo tôi của Làng
Tri Chi, xă Tri Trung (Phú Xuyên) vào thời Lê. Nguyễn Thực
(Đông Hải Đại Vương), tổ sư
nghề tơ tằm, là thành hoàng của làng Thiên Đông, xă
Mỹ Hưng, Thanh Oai. Thiều Hoa công chúa, tổ sư
nghề dệt vải, Thành hoàng làng Ciổ Đô – Ba V́ – Hà
Tây. Nguyên Hồ thống chế, tổ sư nghề rèn,
thành hoàng làng Mậu Nương, xă hiền Lương – Hà
Đông…
Thành Hoàng là những người khai phá lập
làng: với những làng cổ xưa th́ có những vị
thành hoàng có công trị thuỷ, khai muơng, đắp
đê, mở chợ, chữa bịnh như: Văn sĩ
Thành, giúp dân phóng chữa dịch bệnh, thành hoàng của
làng Thuỷ Hội – Tân Hội (Hà Tây). Quận Công Bùi Nghiên
Phổ, có công mở chợ, là thành hoàng của làng Đ́nh
Thị, Trúc Sơn, Chương Mỹ (Hà Tây). Quận Công
Lê b́nh (thời Lê) có công giúp dân đắp đê, thành hoàng
thôn Cổ Nghiă Hạ và Nghĩa Thượng, Xă
Thượng Đ́nh – Đan Phượng (Hà tây). Khai phá và
lập làng như: bà Lê Chân, Làng An Biên, tỉnh Quảng Ninh…
Thành Hoàng những người mở mang dân trí:
sống trong một Đất Văn Hiến, người
Việt luôn nhắc đến: “công cha, nghĩa mẹ,
Ơn Thầy”, ḷng yêu mến thầy là một truyền
thống ăn sâu trong tâm thức hiếu đạo
người Việt. Thầy là người học cao,
hiểu rộng, đời sống đạm bạc,
gương mẫu. Lúc
sống, người Thầy được dân làng họ
xem là niềm tự hào của họ, lúc mất
người thầy được thờ kính và có khi là
thành hoàng cho làng. Ví dụ như: Ông nghè Vũ Quân, ông nghè
Nguyễn Trưởng Nguyên, trạng nguyên Nguyễn
Hiền, …
Thành hoàng những con người hiếu
đễ, tiết hạnh: Bà Thiết Hạnh thôn Nghĩa
lễ (
Thành hoàng những người gốc ngoại:
Tống Hâu, một hoàng hậu nước Tống bị
nạn chết dạt vào bờ biển nước
Việt, được hiển thánh ở nhiều làng
thờ. Cao Than, là quan nhà Hán, có công với dân làng La Thạch
- huyện Đan Phượng...
9. Tà thần:
Trái ngược vối những vị Phúc
thần là những vị tà thần. Người ta tôn
thờ cái bụng và làm nên những điều xấu xa.
Thành Hoàng thuộc nguồn gốc không ra ǵ, là
những người chết vào giờ thiêng: những
thần hoàng này có đời sống xă hội cũng
như luân lư thấp kém nhưng chết vào giờ thiêng,
được dân làng đó sùng kính. Không phải là ai
cũng ủng hộ những vị thần này, triều
đ́nh không cấp bằng sắc, thậm chí c̣n ra
lệnh giải tán, phá bỏ các đền miếu thờ
phụng các vị thần này ở làng, xă. Cách chung của
nhiều người không nhận và gọi đó là
nhưng vị tà thần. Những làng thờ tà thần cho
thấy một tổ chức: “Luật vua thua lệ làng”,
có những khoảng trời tự trị riêng mà cách chung
của nhiều người không thể đụng
chạm tới. Giờ thiêng mà dân chúng tin tưởng là
một giờ bất thường, một cái chết
bất thường làm cho linh hồn của họ có
một sức mạnh. Các làng thờ tà thần là số
rất ít trong Đất Việt, thường những
làng ấy có phần nào sinh sống bằng những
nghề thấp kém, hoặc có đời sống trái
với luân thường đạo lư. Theo tính cách chung
của người Việt, việc sống theo tín
ngưỡng là một đời sống gắn bó với
thần linh, như rất gần trong hơi thở,
gắn liền với cuộc sống thường ngày.
Theo cách chung ấy, khó mà biết được dân chúng
những làng thờ tà thần, trong cuộc sống có
chịu ảnh hửơng bởi lối sống theo
những nghề mà vị thần hoàng làng ấy đă
sống không.
Việc thờ tà thần thường đi
với những tục hèm. Tục hèm là những nét riêng
biệt, độc đáo, khi c̣n sống của vị
thần chết vào giờ thiêng. Thoả măn ước
vọng của vị tà thần này khi c̣n sống th́
được bảo vệ, nếu không th́ chịu
sự chúc dữ, nguyền rủa.
Làng Đồn Điền - Quảng Xương
– Thanh Hoá, thờ vị thành hoàng là vị ăn mày, nên
sắp đến ngày mở hội, cả làng có tục
hèm sắm gậy đi ăn mày ở các làng bên, hay
tỉnh khác. Người giàu hay nghèo trong làng đều
sắm gậy đi ăn mày như thế v́ họ tin
rằng khi thực hiện tục hèm này, th́ họ được
may mắn, phát đạt. Tục hèm ăn mày, ngày nay
chịu sự thoái hoá và trở thành một trở ngại
cho việc phát triển của Đất Nước. Có rất
nhiều những phản ảnh của báo chí về
nạn ăn xin này là một căn bệnh khó chữa.
Làng Tích Sơn (Vĩnh Phú), Xuân Ái - Vơ Giàng -
Bắc Ninh, thờ một người ăn trộm,
tục hèm trong ngày lễ hội của vị thành hoàng, có
diễn một cảnh thần bị quật ḅ lăn ra
sau một vụ trộm không lối thoát. Cũng trong truyền
tục ấy mà ngày nay tại nơi đó vẫn có nhiều
gia đ́nh giàu lên nhờ tủa đi xin ăn khắp nơi.
Một truyền tục cần được gỡ bỏ
trong khi phát triển một nền văn hoá truyền thống:
“lá lành đùm lá rách”, mà không chịu sự tha hoá của một
số người lợi dụng vào đó để làm giàu
một cách vô liêm sỉ.
Làng Đồng Vệ (Vĩnh Phú), làng Cổ
Nhuế (nay thuộc Hà Nội), làng Đồng Kỵ
(Bắc Ninh) thờ thành hoàng vốn là người hót phân,
trong lễ hội người ta có dâng cúng chuối bóc
vỏ cùng với kẹo lạc nấu bằng mât đen
giống như thỏi phân. Ngày xưa, phân bón cho ruộng
đồng chủ yếu là phân trâu, ḅ, động
vật, có những làng v́ ít đất canh tác nên có nghề
phụ là hót phân đem bán cho làng khác. Ngày nay, không c̣n
những việc ấy nữa v́ cũng chẳng hay ho ǵ
cho những làng ấy.
Hèm đuổi lợn trong lễ hội làng Ngô
Xá diễn lại vị thành hoàng làm nghề lái heo xưa v́ đuổi heo và
rớt xuống sông chết.
Hèm ẩu đả giữa các làng thấy
ở nhiều nơi nghịch hẳn với tục giao
hiều giữa các làng, hèm ẩu đả thấy ở
nhiều nơi: Thụy Khê và Sài Sơn (Hà Tây);
Thượng Ốc, Yên Lũng, Văn Lũng, Yên Thọ
(Hà Đông); Bong Trung (Thanh Hoá); Yến Vĩ - Đục Khê
(Hương Sơn)…với hèm tục này, càng ẩu
đả đổ máu nhiều càng là thêm phúc phần may
mắn, tránh được rủi ro…
Trong các vị thành hoàng, tà thần là những con
người xấu không đáng bắt chước, noi
theo, những tục hèm là để kêu gọi tránh đi
hơn là khuyến khích phát triển, nếu làng xă c̣n tổ
chức các hèm tục ấy th́ ngày nay chỉ c̣n là tṛ
chơi, một tịết mục hài không nội dung tín
ngưỡng.
10. Tính cộng đồng của tín ngưỡng thành hoàng.
Tín ngưỡng Thành Hoàng là một sinh hoạt
tâm linh của cơ cấu làng xă mà cái Đ́nh là trung tâm cho
những sinh hoạt tín ngưỡng ấy. Xét về tính
cộng đồng th́ tín ngưỡng Thành Hoàng là một
văn hoá nối kết giữa những người trong
làng với nhau, để đồng cảm với nhau và
tiến tới việc đồng mệnh với nhau.
Từ đồng cảm đến đồng mệnh
buộc mỗi người ư thức cộng đồng
là sống chết có nhau, theo đúng giá trị ca dao thành
ngữ: “tối lửa tắt đèn có nhau”.
Trở ngại: Từ đồng cảm
đến đồng mệnh có một điều khó
chấp nhận là tính thủ cựu, thiếu sự liên
đới giữa làng này và làng kia, ganh đua nhau về
nhiều mặt h́nh thức, thiếu nội dung. Đó là
một h́nh thức kém phát triển ngoài làng xă, đề cao
thành hoàng làng ḿnh thái quá đều là một trở
ngại.
Thường tính cộng đồng của
những làng thờ chung những vị thần hoàng th́ phát
triển hơn những làng cô lập. Sở dĩ có
những làng thờ vị thành hoàng riêng biệt của
ḿnh, là v́ những làng ở xa nhau, khó đi lại với
nhau. Ngày hôm nay, phương tiện đi lại không c̣n là
một vấn đề khó khăn, trong khi nền văn
hoá phát triển lớn hơn giữa những công đoàn
làng xă th́ vẫn có những trào lưu ngược lại
là những hội đồng hương phát triển,
không làm việc chung với nhau, khích bác, đả kích,
hơn thua với nhau. Xét thấy những làng Công Giáo
cũng có những phát triển tương tự, vẫn
có những thánh làng này hơn thánh làng kia, hội
đồng hương này chê hội đồng
hương khác ngay trong cùng một làng, một Giáo Xứ,
một giáo phận.
Làm nổi bật truyền thống tâm linh Thành
Hoàng là làm nổi bật tính liên đới, sống gắn
bó với nhau, từ trong làng đến các làng lân cận
như trong văn hoá đă từng có những làng có
truyền thống giao hiếu với nhau. Sự liên
đới là một di sản văn hoá mà các vị thánh
nhân xưa đă sống và chết cho lư tưởng
của một dân tộc hiếu hoà, trọng t́nh, trọng
nghĩa…
Việc Thánh làng này hơn Thánh làng kia, là một
cuộc chạy đua thiếu mất ư nghĩa của
tính chất truyền giáo của Đạo Công Giáo.
Nhiều Nhà Thờ chỉ ganh nhau hơn cây tháp. Ganh nhau v́
có nhiều hơn vị thánh…Biến Ngôi Đ́nh trở
thành pháo đài là trái với truyền thống của dân
tộc.
Thánh nhân đối với người Việt
là một mẫu gương cao quư, không chỉ để
thờ nhưng c̣n là để sống chung với thế
giới thần linh, tiên tổ, hướng tới một
đất nước thái hoà thịnh trị. Các vị
thánh được thần tích và thần phả ghi chép
lại như một bài học cho tương lai, biết
sống và giữ những truyền thống để
khỏi là người Việt mất gốc ngay trên quê
hương ḿnh.
Quan niệm Bách Nghệ Tổ Sư bắt
nguồn từ ḷng hiếu học của người
Việt xưa.
Nền văn hoá nông nghiệp, phát triển theo
tính cộng đồng làng xă, sống trong luỹ tre làng
bảo vệ, tính cách người Việt xưa cũng có
bảo thủ để giữ lấy ḿnh. Từ tính cách
bảo thủ ấy, trong một làng thường có
những làng nghề, hay từng cụm theo nghề gia
truyền. Mỗi nghành nghề thủ công có một vị
khai sáng. Theo quan niệm: “Bán tự vi sư, nhất tự
vi sư”, th́ người dạy cho người khác một
chữ hay một nghề đều gọi là thầy.
Đă là thầy th́ đối với tṛ đều
được trọng vào hàng thứ hai trong tam
cương của Nho Giáo: “Quân, sư, phụ”. Nghĩa là
trong tinh thần hiếu đạo, người học tṛ
phải xem đó là nghĩa vụ trọng thầy hơn
cả bậc sinh thành, cho nên phát sinh một đạo
gọi là đạo Thầy – Tṛ.
Thần thánh hoá người thầy không đúng
cách là một cản trở lớn lao trong việc phát
triển văn hoá.
Đạo Thầy – Tṛ, bắt nguồn trong
văn hoá làng xă xưa kia, có một hoàn cảnh nhất
định. Văn hoá làng xă là một môi trường
văn hoá “đóng cửa nhà dạy nhau”, người
thầy là một người trí hiểu biết hơn
người, được may mắn sinh trưởng
trong một gia đ́nh chữ nghĩa, được
học từ cha ông những sách thánh hiền,
được có cơ hội ra thành thi Hội, thi
hương, thi tiến sỹ. Được hửơng
một nền tri thức vượt ra khỏi làng xă,
để khi trở về người thầy là
người thông thạo hơn người.
Do tŕnh độ tri thức c̣n sự chênh
lệch rất xa, đối với tṛ, người
thầy là tuyệt đối: “Không thầy đố mày
làm nên”, cho nên cung cách giảng dạy ở làng quê xưa có
cách thức : “một thày nhiều tṛ”, “muốn con hay
chữ phải yêu lấy thầy”, là một quan niệm
rất gần gũi với nhiều người trong khung
cảnh làng xă. Từ việc học yêu lấy thầy
đến việc “tôn sư trọng đạo”,
đến việc ngưỡng mộ tôn thờ là con
đường rất gần. Sở dĩ Văn miếu
xưa dành tôn thờ các Vị tổ Nho như Đức
Khổng Tử là kết tinh
từ đạo Thầy – Tṛ trong khung cảnh ấy.
Đạo Thầy – Tṛ, có những giá trị định
hướng, ảnh hưởng nhất định cho
việc phát triển văn hoá, nhưng tuyệt đối
quá cũng có nhiều điều dở:
Điều dở trong đạo Thầy – Tṛ:
Cách thức truyền đạt ngày xưa trong làng xă, phát
sinh ra một lối học thụ động của tṛ:
“Chữ thầy, thầy nói, tṛ học, tṛ nghe”. Khác với
lối giảng dạy của Đức Khổng Tử
với tṛ là trao đổi. Người học tṛ làng quê
Việt, ít được trao đổi cùng thầy,
xuất phát từ một mặc cảm chung “biết
năm ba chữ chưa đầy lá mít”, làm sao có thể
đối thoại, trao đổi cùng thầy. Tṛ chỉ
biết nghe, rồi ghi ghi, chép chép theo lời đọc
của thầy: “không biết th́ dựa cột mà nghe” .
Lối học thụ động này làm cho học tṛ cùn
đi óc sáng tạo, cứ theo thầy mà làm, tính cách gia
truyền h́nh thành là như thế. Sự h́nh thành lớp
học ngày xưa cũng là thế, cứ năm
mươi hay một trăm học tṛ ngồi im lặng cúi
đầu nghe thầy giảng như một lũ cừu
ngoan ngoăn, không phản đối, không ư kiến, không
thắc mắc. Thầy thích dạy ǵ th́ dạy, sách
của thày, chữ của thày, thày muốn truyền
đạt bao nhiêu tuỳ thày, thày trau dồi thêm hay không
cũng tuỳ thày. Đă là thày th́ cứ là thày măi măi, thầy
hay thầy dở cũng là thầy.
Từ cách học thụ động tṛ cũng chẳng thể hơn thầy, như người ta thường nói “trứng không khôn hơn vịt”. Làm học tṛ nghiă là học lấy cách tiêu hoá những ǵ thầy mớm cho, đi ra khỏi khuôn phép thầy – tṛ là người bất hiếu thậm chí c̣n chịu khinh người thất học. Học chỉ là tiêu hoá kiến thức thầy mớm cho, mà tiêu hoá không xong hoặc có điều tiêu hoá không nổi, th́ đến bao giờ mới tiến.
Những tổ của ngành nông nghiệp:
Nghành nghề nông nghiệp đ̣i hỏi lắm
công phu, nhất là theo lối canh tác tiểu nông nghiệp,
người này học cách của người kia. Không
biết cội nguồn của nghành nông nghiệp là
đâu, mà người Việt không thích vô h́nh như thế
nên tạo ra rất nhiều truyền thuyết để
h́nh thành nên những vị tổ khai đất, dạy dân
trồng trọt, như Triệu Cơ, ông Khai Canh. Dùng
chữ Triệu để gọi danh, người Việt
xưa biết rằng từ lâu lắm rồi, muôn năm
trước, có người đă truyền dạy dân làm
đất, trồng lúa…tính cách hữu h́nh vẫn không
bảo đảm cho vụ mùa tốt tươi nên
nhất định cần có một vị thần,
vượt trên thế giới hữu h́nh này để cai
quản mà người ta gọi là Thần Nông. Có thể
đó là cḥm sao Thần Nông mà người ta tin tưởng
là ông nh́n thấy sự cực khổ của dân chúng mà giúp
cho mùa màng được tươi tốt. Có thể người cai quản chính là ông
Trời để cầu khẩn: “Lạy Trời mưa
xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng
tôi cày…”. Mẹ Lúa - Thần Lúa - Vía Lúa, được nhân
cách hoá thành người phụ nữ với nghi thức
Mẹ Lúa gieo trồng. Với Thần Trâu, giúp người
cấy cày. nội dung của tín ngưỡng nông nghiệp
là Hồn Lúa. Hồn Lúa theo quan niệm dân gian là sức
sống của cây lúa, quyết định cho vụ mùa
bội thu. Do vậy trong thực hành nghi thức tín
ngưỡng nông nghiệp, người ta chú trọng
rất nhiều đến việc cầu mong sự quan
tâm của các vị Thần cai quản.
Những Vị Thần Ngư Nghiệp:
Thờ Cá Ông và lễ Nghinh Ông là đặc
điểm của những làng ven biển trên Đất
Việt. Có nhiều truyền thuyết về Cá Ông, một
trong những truyền thuyết như sau: Phật Bà Quan Âm
là người hay cứu nạn cho chúng sinh, Ngài hoá thân thành
Ông Nam Hải đi tuần du ngoài biển.
Một hôm, từ trên toà sen ngài nh́n thấy
cảnh dông băo ngoài biển khơi đă nhấn ch́m bao thuyền
bè và bao sinh linh hiền lành ngày ngày ra khơi kiếm
sống. trước cảnh thương tâm đó,
Phật Bà Quan Âm cởi chiếc pháp y, xé tan thành từng
mảnh ném xuống biển và hoá phép chúng thành con cá Voi, sai
chúng đi cứu ngư dân bị nạn. sau đó,
để tăng thêm sức mạnh cho chúng, Phật Bà Quan
Âm lại mượn bộ xương của voi trên
rừng cho Cá Voi, khiến cá Voi vừa to lớn vừa cío
sức mạnh, có mặt ngay ở nơi con người
lâm nạn để cứu giúp, trở thành người
bạn, vị thần của dân chài.
Những bậc Thánh Sư (Tổ nghề): Thánh
Sư là những người nhờ tài năng hoặc cách
này hay cách khác, t́m ra được một bí quyết làm
được một điều ǵ đó, sau rồi
truyền nghề cho nhiều người khác.
Bách nghệ tổ sư bắt nguồn từ
truyền thống hiếu đễ, lóng yêu mến
thầy, thầy dạy chữ cũng như thày dạy
nghề đều được yêu mến. Thường
thày dạy nghề, nhất là những nghề lắm công
phu mà vị thầy ấy có công t́m ṭi và khai sáng
được tôn kính như bậc thánh sư,
được đặt trang trọng trên một bàn
thờ khác với bàn thờ tổ tiên.
Có những vị thánh sư có tính huyền
thoại như Triệu Cơ tổ sư nghề nông, Cao
Lỗ Đại Vương tổ sư nghề nỏ
thời An Dương Vương, Nguyễn Tam Trinh tổ
sư nghề đô vật thời Hai Bà Trưng,…
Có những vị tổ sư người
thật việc thật như Tuệ Tĩnh cùng Hải
Thượng Lăn Ông là tổ sư ngành y, Trạng Bùng – Phùng
Khắc Khoan là tổ sư ngành dệt, tiến sỹ
Trần Lư là tổ sư ngành Hoạ...
Có những con người thực nhưng lại không để lại tên tuổi, không có lai lịch, và không có dấu tích của huyền thoại như Cụ Trần, tổ sư nghề giấy ở vùng Bưởi (Hà NỘi), Cụ Đặng, tổ sư nghề rèn ở An Khê (B́nh Định)…
Qua những vị thần nông nghiệp, ngư
nghiệp, các thánh sư cho thấy mảnh đất
hồn Việt biết trọng di sản văn hóa.
Trở thành tín ngưỡng là h́nh thức lưu truyền
bền bỉ nhất, trân trọng nhất mà người
Việt có được. Hồn thiêng đă đi vào
đất mẹ cưu mang, người Việt tin
rằng nguồn gốc dưới đất của ḿnh
từ trời, ư thức về hai thực tại ấy có
từ nguyên sơ, chính ư thức đưa dẫn cuộc
sống gắn bó với thần linh. Không một việc
ǵ của người Việt mà không có thần linh tham
dự, không chỉ v́ kế sinh nhai mà là mảnh đất
thiêng hồn Việt đă làm nên con người tôn giáo
ấy. Có thể nói con người Việt là con
người của tôn giáo, một tôn giáo tâm linh nhắc
đến nguồn cội, ḷng biết ơn và lưu
truyền cho con cháu.
Tổ sư nghề cho thấy nét đặc trưng của người Việt: “Uống nước nhớ nguồn”, mỗi một ngành nghề đều có nguồn ngọn, là những người khai sáng. Nếu Phương Tây có ghi lại công lao của các nhà phát minh, bằng cách gắn tên của người phát minh vào tác phẩm của người sáng chế, th́ người Việt chẳng những thế c̣n đưa vị ấy vào trong tín ngưỡng để ngưỡng mộ, với ḷng thành kính. Nguồn cội là tâm thức quan trọng của người Việt trong mọi vấn đề nhân sinh quan. Do tâm thức nguồn cội sâu xa, người Việt cách nào đó cũng h́nh thành nên nguồn Việt triết để trả lời cho những câu hỏi căn bản của con người: Từ đâu đến, đi về đâu, ư