Văn Hoá biu đt đc tin.

Đặc điểm của tư tưởng triết học Việt so sánh với Triết học Tây Phương, có thể kể:

Triết học Tây Phương gắn liền với sự phát triển khoa học tự nhiên, Triết lư Ấn Độ gắn liền với tôn giáo, Triết học Việt gắn liền với nhân sinh, đề cao đạo lư làm người, thể hiện bằng ḷng yêu nước, bắt nguồn từ ḷng suối Mẹ.

Triết học Tây Phương có tính cách trội đi từ thế giới quan đến nhân sinh quan, th́ triết Việt có tính vượt trội đi từ nhân sinh quan đến thế giới quan.

Tư tưởng triết Việt khởi đi từ nhân sinh quan, nên thường thiếu hệ thống chặt chẽ, có tính tư duy tổng hợp.

Triết Việt có tính hướng nội, dẫn đến những h́nh thức tôn giáo tại tâm. Quan niệm ṿng tṛn, tuần hoàn dẫn đến tính cách trọng sự an hoà. Cuối thời đồ đá mới (khoảng 3000 năm trước Công Nguyên) với nghề trồng lúa nước nghiêng về tín ngưỡng Mẫu, người Việt đă có ư niệm về đường tṛn, chuyển động quay, có ư thức về nhịp điệu, cân xứng, đă có quan niệm về thời gian, về vũ trụ (trên đồ gốm ở Bắc Sơn, có mặt trời h́nh tṛn, có h́nh nửa chữ S, h́nh số 8). Văn hoá nông nghiệp hướng họ tới việc thờ thần mưa, thần gió, đặc biệt mặt trời là  thần linh của họ.

Từ những đặc điểm tổng quan đó, những vấn đề được tŕnh bày:

1.    Miền Đất Văn Hoá.

Giang sơn Việt Nam hiện tại của Việt nam không phải là có từ nguyên thuỷ. H́nh thành từ Bắc Bộ, và mở rộng về phía Nam, Có thể tóm tắt theo những thời điểm sau:

Thời tiền sử: Dân tộc Lạc Việt đă định cư trên lănh thổ phía Bắc. Năm 207 BC. Thời Hùng Vương dựng nước vùng đất Việt gọi là Văn Lang chưa rơ, Nước Âu Lạc đời Thục. Nhà Tần trong lúc suy yếu, Triệu Đà xây dựng riêng cho ḿnh một giang sơn, sau khi chiến thắng An Dương Vương và sáp nhập nước Âu Lạc vào ba quận Nam Hải, Quế Lâm, Tượng Quận Vùng Nam Hoa, gây thành nước Nam Việt.

Thời kỳ Bắc thuộc: Nam Việt lần lượt có tên gọi:

Giao Chỉ: Dưới thời Tiền Hán -111    203.

Giao Châu: dưới thời Hậu Hán 203 – 541.

 An Nam Đô Hộ Phủ dưới Đời Đường 604 - 939.

Sau khi thu hồi chủ quyền dân tộc Việt Nam mở rộng lần bờ cơi Phương Nam.

Trung Việt:

1069: Chế Củ dâng cho Lư Thánh Tông để đền ơn tha mạng ba châu: Bố Chính, Địa Lư, Ma Linh, phần đất tới đây là từ Đèo Ngang trở ra.

Triều Trần: Chế Mân dâng hai đất Châu Ô và Châu Lư, năm 1306, dưới đời Trần Anh Tông làm sính lễ cưới Huyền Trân Công Chúa. Vùng đất Việt, vào thời này đă tới Huế.

Nhà Hồ: Tiến thêm vào tới Quảng Ngăi, 1402.

Thời Lê Thánh Tông, đến Phan Rang 1470.

Năm 1611, Nguyễn Hoàng lập phủ Phú Yên.

Năm 1653, tiến đến Khánh Hoà.

1697: Chúa Nguyễn sai lấy đất Phan Rí và Phan Rang làm thành hai huyện Yên Phúc và Hoà Đa (Phủ B́nh Thuận), tức là Phan Thiết ngày nay.

Nam Việt:

1620: Công Chúa Ngọc Vạn, con gái của Chúa Săi (1613 – 1635) được gả cho vua Chân Lạp là Chey Chetta II, và được phong làm Hoàng Hậu Chân Lạp. Do cuộc hôn nhân này, người Việt được ra vào đất Chân Lạp và lập ấp tại Mô Xoài (Bà Rịa) và các vùng Sài G̣n – Gia Định.

Theo đường lối viện trợ quân sự: Chúa Nguyễn (1648 – 1687) giúp Cao Miên tái lập trật tự, vua Cao Miên nhường lại đất Biên Hoà cho Chúa Nguyễn.

1679: Ba tướng Nhà Minh không thần phục Nhà Thanh mới lên nắm quyền tại Trung Hoa, lánh nạn sang Việt Nam. Chúa Hiền chấp thuận cho họ vào khẩn hoang đất Gia Định, và Biên Hoà Mỹ Tho, vua Cao Miên phải chia đất cho họ.

1698: Chúa Nguyễn đặt Nguyễn Hữu Kính làm thống soái và thiết lập địa hạt hành chánh tại đất Chân Lạp, đặt Đồng Nai là huyện Phúc Long, Biên Hoà làm trấn Biên Dinh, và Gia Định làm Phiên Trấn Dinh, Sài Côn đổi thành huyện Tân B́nh.

Vào cuối đời Chúa Vơ Vương 1765, tất cả đất đai lục tỉnh của Cao Miên đă về tay Chúa Nguyễn.

Lănh thổ Việt Nam từ đó hoàn thành[1].