Vào
khoảng thời gian đầu khi cuộc chiến tranh
nổ ra, năm 1939, Georges Eisele đang bị bắt làm tù
binh. Đơn vị của anh bị rơi vào một
ổ phục kích. Chỉ mỗi một việc đi
bộ cưỡng bức thôi cũng đủ làm cho
mệt mỏi ră rời, phải nằm ngủ trên đống
rơm trong một xưởng lao động. Đêm khuya,
người ta nghe thấy những tiếng tru hoang dă
từ phía ngoài. Một đồng đội th́ thầm
với anh : “Chắc chắn tù binh sẽ bị tàn sát”.
Một nỗi sợ hăi kinh khiếp xâm chiếm Eisele khi
nghĩ đến cái chết quá sớm. Cô vợ trẻ
của anh mà thấy cảnh này th́ chắc là kinh
khiếp lắm ! Lúc đó cô ta sẽ cầu
nguyện nhiều cho anh. Quả thật là anh đă
chế giễu cô khi chia tay, lúc cô ta hứa với anh là
sẽ cầu nguyện nhiều cho anh ta hằng ngày, đặc
biệt là trước khi đi ngủ…
Từ
lâu, anh đă đánh mất thói quen tin tưởng
cầu nguyện, nhiều lần anh nói với bạn bè
rằng số phận đă được định
đoạt rồi th́ không thể thay đổi ǵ
nữa và không hề có Thiên Chúa tốt lành. Dù vợ chưa
cưới của anh có van vỉ nài xin, anh vẫn không
chịu tổ chức lễ cưới tại nhà
thờ… Anh đă nh́n thấy những ḍng nước
mặt lặng lẽ của cô ta khi rời khỏi ṭa
thị chính; chính anh và hai người bạn đồng
đội của anh làm chứng đă chế giễu cô
ta là quá lỗi thời… Ban đêm, khi nghe tiếng khóc
của cô vợ trẻ, anh đă đă hứa là sẽ
tổ chức lễ cưới ở nhà thờ sau
chiến tranh. Lời hứa hẹn khá chân thành…
Giờ
đây, những giọt nước mắt ấy đang
thiêu đốt, dày ṿ tâm hồn anh. Trong đêm trằn
trọc mất ngủ anh miên man suy nghĩ : “Tại
sao ḿnh không chịu làm thỏa măn điều ao ước
của vợ ḿnh nhỉ ? Tại sao ḿnh không thể
rứt bỏ lưỡi dao này ra khỏi tâm hồn ḿnh
được nhỉ ?”. Rồi anh nghĩ đến
cô vợ trẻ đang sống trong một gia đ́nh
đạo ḍng…
Bên
cạnh anh, có một đồng đội bị thương
đang cất cao giọng đọc kinh Lạy Cha. Theo
bản năng, anh cũng đọc kinh với anh kia. Và
đó chính là sức mạnh, là niềm hy vọng
sống lại trong tâm hồn đă quá sức thất
vọng, chán chường của anh. Anh nhớ lại
những lời mà vợ anh đă nói với anh khi chia tay :
“Anh hăy tin chắc là em sẽ cầu nguyện cho anh
hằng ngày”.
Trong
niềm hy vọng mong manh bí ẩn rằng lời cầu
nguyện của người vợ sẽ được
nhận lời, cuối cùng anh ta ngủ thiếp đi.
Sáng
hôm sau, có 6 người lính đến khám xét túi áo
quần các tù binh và cướp đi tất cả
những ǵ họ có. Một tên tàn bạo nhất trong
bọn chúng dùng tiểu liên của hắn liên tiếp
bắn chết một số tù binh.
Đến
phiên Eiselle, sau khi cướp hết đồ trong các túi
của anh, một tên lính t́m thấy trong túi áo veste anh có
một chuỗi tràng hạt Mân côi với một tượng
Đức Mẹ. Vợ anh đă bí mật giấu nó dưới
đáy túi này. Anh đă t́m thấy nó trên đường
đi và có ư bỏ vất nó… Anh đỏ mặt
xấu hổ khi nh́n thấy chuỗi tràng hạt, nghĩ
rằng người ta sẽ chế giễu anh…
Nhưng
hoàn toàn trái ngược ! Tên lính cầm chuỗi tràng
hạt giơ cao lên, chỉ vào tấm ảnh và kêu lên thích
thú báo cho các đồng đội của hắn :
“A ! Katolika ! Công giáo !”. Ngay lúc ấy
những tên lính trở nên dễ thương, ḥa nhă hơn.
Vị chỉ huy của bọn chúng đi đến và ra
lệnh trả lại cho tù binh tất cả những ǵ
bọn chúng đă tịch thu của họ. Vị chỉ
huy đứng lại trước mặt Eisele và thú
nhận với anh rằng : “Ja jesten katolika ! Tôi cũng
là người Công giáo !…”.
Bấy
giờ anh bạn của chúng ta mới cám ơn cô vợ
đă trao tặng cho ḿnh tấm bùa hộ mệnh này
và anh ta chúc tụng ngợi khen uy quyền của tôn giáo.
Anh
không c̣n lo sợ nữa. Tất cả tù binh đều
được đối xử một cách nhân đạo.
Tuy khẩu phần ăn rất nghèo nàn, khối khổ,
nhưng khẩu phần của những tên lính cũng
chẳng tốt hơn tí nào.
Hôm
sau, xảy ra một cuộc chạm súng, sau đó th́ yên
tĩnh. Một viên sĩ quan tuyên bố : “No, Bolchéviki !”.
Vài
tuần sau, Eisele được tự do. Thật là vui
mừng khi gặp lại vợ ! Niềm vui này lớn
lao hơn nữa khi cô ta biết được sự thay
đổi xảy ra trong chính con người của
chồng ḿnh. Ngày mai, cả hai sẽ cùng đi lănh
nhận các bí tích : Giải tội, Thánh Thể và Hôn
phối. Ngày hôm đó, một lần nữa, cô vợ
trẻ lại tuôn trào suối lệ, nhưng lần này,
là suối lệ sướng vui và hạnh phúc.
(Theo S. Chilcher, Augsburger Kirchenzeitung, 1950)