Hồi đó là năm 1940. Một người
lính ở Wehrmacht kể lại rằng : “Sau mấy ngày
hành quân cấp tốc, đơn vị chúng tôi tiếp
thu được khu vực Rambouillet yên tĩnh. Phần
lớn cư dân khỏe mạnh đều dồn hết
về phía tây. Chỉ có những người già yếu,
bệnh hoạn ở lại đó mà thôi. Đơn
vị chúng tôi hành quân đến đây và dừng
lại nơi này. Thế là chúng tôi có thời gian để
chỉnh đốn binh lực. Hoạt động chính
yếu của chúng tôi bấy giờ chỉ c̣n là leo lên
vọng gác.
Ban ngày, dân chúng có thể tự do đi
lại. Nhưng từ 20 giờ đến 6 giờ sáng th́
không ai được phép ra khỏi nhà, để pḥng
ngừa mọi sự phá hoại có thể xảy ra.
Tất cả những ai vi phạm luật này sẽ
bị trừng phạt nặng nề.
Một đêm kia, sau một ṿng tuần
tra vào lúc 2 giờ sáng, tôi đi thẳng về phía
vọng gác, vừa đi vừa lần hạt. Trời
tối đen như mực. Từng bước một, tôi
tiến dần đến vọng gác. Khi đến
gần rồi, tôi hô lớn : “Halte ! Wer da ?”.
Không có tiếng trả lời. Tiếng động xào
xạc không ngừng. Rồi tôi nghe một tiếng
rất rơ ràng “B́nh an ở cùng anh em”. Ai có thể nói lên
câu chúc b́nh an trong một xứ đầy dẫy kẻ
thù thế này nhỉ ? Tôi bật đèn pin bỏ túi
lên và chĩa súng vào kẻ lạ mặt đang đứng
cách tôi khoảng 20 bước. Đó là một linh
mục, tay phải đang đặt trên ngực. Ngay
lập tức tôi đoán là cha đang mang Ḿnh Thánh Chúa. Tôi
kinh ngạc quá đỗi đến nỗi không biết
phải nói ǵ cả. Vị linh mục nói tiếng Đức
lưu loát không chê vào đâu được, giải thích :
“Tôi mang Ḿnh Thánh Chúa đến cho một người
đang hấp hối. Tôi tiếp tục đi được
chứ ?”. Tôi suy tính một chốc rồi nói cha
chờ tôi một lát. Tôi sẽ đi cùng cha để
bảo đảm cho cha và để tránh cho cha khỏi
những khó khăn có thể xảy ra nữa. Tôi đi
đến vọng gác, đánh thức đồng đội
tôi dậy, anh ta phải báo cáo t́nh h́nh cho sếp của
tôi.
Rất nhanh sau đó, tôi gặp lại
vị linh mục và cả hai chúng tôi cùng im lặng đi
bên nhau. Theo bản năng, tôi trở lại thời c̣n bé
khi c̣n ở trong ban giúp lễ của nhà nguyện bệnh
viện, khi mà tôi thường xuyên đi theo cha tuyên úy
mang Ḿnh Thánh Chúa cho bệnh nhân. Có phải ngẫu nhiên mà
vào đúng đêm nay, giờ này, tôi đi tuần tra không ?
Có phải Đức Trinh Nữ đă dẫn đưa bước
chân tôi khi tôi vừa đi vừa lần chỗi Mân Côi
không ?
Sau khi đi được
một đoạn, vị linh mục dừng lại trước
một ngôi nhà nhỏ và nói với tôi : “Mời anh vào
với tôi”. Rồi gơ cửa. Một bà già ra mở
cửa cho chúng tôi. Vừa trông thấy tôi, bà vô cùng
hốt hoảng lo sợ. Vị linh mục nói vài lời
trấn an làm cho bà yên ḷng. Bà ta đi trước dẫn
chúng tôi vào pḥng người bệnh. Người bệnh
lănh nhận bí tích Xức dầu và của ăn đàng.
Khi tôi đang quỳ gối, tôi để ư thấy
rằng gương mặt của vị linh mục sáng
bừng lên… Cha kết thúc nghi thức bằng kinh Lạy
Cha và kinh Kính mừng. Bằng một giọng rơ ràng và hăng
hái, tôi cùng đọc kinh với họ. Những người
có mặt ở đó nh́n tôi rất ngạc nhiên.
Chắc là họ đang tự hỏi : “Lính mà cũng
có thể đọc kinh được à ?”.
Khi trở về,
vị linh mục nhờ tôi đưa ngài về tận nhà.
Ngài hỏi thăm về quê quán tôi. Khi biết tôi trước
đây ở địa phận Paderborn, ngài cảm động
quá sức và nói với tôi : “Tôi biết rất rơ ràng
lệnh cấm ra ngoài vào giờ giới nghiêm. Nhưng khi
người ta mời đi ban bí tích sau hết cho người
đang hấp hối, th́ tôi không thể nào từ
chối được. Không một nguy hiểm trần
gian nào có thể ngăn cản tôi thi hành bổn phận
của tôi được. Trước khi tôi đi, tôi
đă cầu nguyện cùng thánh Liboire mà tôi đặc
biệt tôn kính, xin ngài thương nâng đỡ và
bảo vệ tôi. Và giờ đây, một người lính
thuộc địa phận thánh Liboire đă bảo vệ
tôi trong khi tôi thi hành sứ mạng !”. Khi tôi nói cho
ngài biết thánh Liboire cũng là vị thánh quan thầy
của làng quê tôi nữa, th́ ngài vô cùng cảm động.
Ngài không ngừng lặp đi lặp lại : “Do
ngẫu nhiên hay do Thiên Chúa yêu thương quan pḥng mà chính
anh đă trở thành người đồng hành với tôi
vậy nhỉ ?”.
Trong bài giảng vào
chủ nhật sau, ngài muốn kể lại câu chuyện
này cho giáo dân của ngài, bởi vậy ngài đă
mời tôi đến tham dự thánh lễ. Tôi đến
tham dự thánh lễ cùng với đông đảo đồng
đội của tôi. Nhưng thật đáng tiếc, chúng
tôi không hiểu được bài giảng của ngài,
ngoại trừ những tiếng “Pax Vobiscum” và
“Liboirius” mà vị linh mục nhắc đi nhắc
lại nhiều lần.
Khi ra khỏi nhà thờ, nét mặt của
các tín hữu cho chúng tôi biết rằng họ rất
độ lượng với chúng tôi. Nhiều người
trong số họ bày tỏ ḷng đồng cảm của
họ khi họ nói với chúng tôi : “Pax Vobiscum” (B́nh
an ở cùng anh em).
(Theo Willi Zelinter)