Nam
Mô Bổn Sư Thích ca Mâu Ni
Phật.
Vậy muốn "Tín
Tâm", hỏi tâm là cái ǵ? Bởi v́ xưa nay ai cũng
hay nói: "Tôi không cần đi chùa, tôi chỉ tu tâm cũng
được rồi." Nhưng mà tâm là ǵ để
mà tu? Đó là điều mà nhiều người muốn
biết, nhưng không biết rơ. Hoặc trong lúc nói
chuyện với nhau, người này bảo người
kia rằng: "Tâm tôi nghĩ thế này, tâm tôi tính
thế kia." Th́ như vậy tâm là cái "nghĩ",
"tính" hay là cái ǵ khác nữa? Đúng ra chữ tâm
theo nhà Phật có nghĩa là để chỉ cho cái
"biết". Bởi v́ biết nghĩ, biết tính,
biết tốt, biết xấu, biết dở, biết hay,
tóm lại mọi cái thuộc về lănh vực biết
đó đều gọi là tâm. Bởi vậy nếu mà chúng
ta không phân biệt rành rẽ th́ chúng ta chỉ thấy tâm
là cái biết phân biệt mà quên tâm c̣n là cái biết
thầm lặng, sáng suốt không có phân biệt. Do đó
nên trong nhà Phật chia tâm ra làm nhiều thứ để
giải thích. Ở đây, tôi tổng quát chia ra làm hai
loại: Loại thứ nhất là Tâm Vọng, loại
thứ hai là Tâm Chân.
Tâm Vọng là cái ǵ?
Tức là những cái biết thuộc về suy nghĩ,
thuộc về phân biệt. Đó gọi là Tâm Vọng. Tâm
là cái biết, mà cái biết có suy tính, cái biết phân
biệt đó là động. Cho nên gọi là vọng.
Vọng là dối chứ không có thật. Nó có rồi
mất. Sinh rồi diệt, chứ không lâu cho nên mới là
vọng. C̣n cái biết mà thường hằng có, không
đổi thay, bất sinh bất diệt (tức không
động), không có tướng trạng th́ gọi là Tâm
Chân hay Chân Tâm. Th́ như vậy, cái Tâm Chân thật đó
là chỉ cho cái biết không bao giờ đổi thay, không
bao giờ sinh diệt. Mà người đời chúng ta ai
cũng chỉ nhận được cái biết, tức là
cái biết suy tính về phân biệt, mà ít ai nhận
được cái biết thầm lặng hằng c̣n mà
không có sinh diệt. Bởi không nhận được
điều đó nên chỉ biết cái tâm hư dối,
cho là tâm thật; c̣n cái tâm chân thật lại quên đi.
V́ vậy cho nên trong
kinh Tứ Thập Nhị Chương, Đức Phật có
dậy: "Này các Tỳ Kheo, các ông chớ nên tin cái tâm
của các ông. Chỉ khi nào chứng A La Hán mới nên tin."
Như vậy quư vị thấy, cái tâm đó là cái tâm hư
dối, mà tin nó là không được. Bởi v́ nó đổi
thay, tức là sinh diệt. Mà tin cái đổi thay sinh
diệt th́ thế nào ḿnh cũng bị biến đổi,
bị sinh diệt. Khi chứng A La Hán th́ cái tâm mới là
cái biết. Cái biết đó không c̣n sinh diệt nữa.
V́ vậy cho nên lúc đó mới đáng tin.
Đức Phật muốn
cho chúng ta đừng lầm lẫn hai cái tâm: tâm phân
biệt hư dối và tâm lặng lẽ chân thật.
Nếu mà chúng ta lấy cái hư dối mà cho là thật
th́ tự chúng ta bị lầm, bị mê, rồi đi
trong sinh tử. Muốn biết rơ cái tâm chân thật th́
phải làm sao? Bởi v́ những vị tu ngộ đạo
th́ tự nhiên họ thấy, họ nhận ra. C̣n nếu
mà chưa ngộ đạo th́ khó mà nhận ra, khó mà
biết được. Th́ giờ đây tôi chỉ y theo
những lời dậy của Phật, của Tổ, để
quư vị khả dĩ có thể nhận thấy được
phần nào.
Trong Kinh Lăng Nghiêm, Đức
Phật thường dùng h́nh ảnh, Ngài nói rằng có
một cái gọi là "Nhất tinh minh sinh lục ḥa
hợp". Tinh là ṛng rặt, Minh là sáng suốt.
Tức là cái sáng suốt một cách thuần túy đó,
sinh ra sáu cái ḥa hợp. Sáu cái ḥa hợp là: mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân và ư. Tại sao gọi là sáu cái ḥa
hợp? V́ mắt mà muốn thấy th́ phải có con
mắt và có cảnh bên ngoài. Rồi cái thức theo đó
mà phân biệt. V́ vậy cái biết của mắt
phải do đủ duyên ḥa hợp mới có. C̣n cái ư
suy nghĩ th́ cũng có cái cảnh bên ngoài, có danh có tướng,
rồi theo đó mà suy nghĩ. Đó cũng là chạy theo
duyên, theo cảnh. Nhưng mà trong cái chạy theo duyên theo
cảnh đó, lại có cái ngầm ngầm, không theo mà
chúng ta không thấy. V́ vậy cho nên chư Phật, chư
Tổ luôn luôn bảo chúng ta phải khéo, đừng có
lầm chạy theo cảnh mà phải thấy có cái
thật ngầm ở trong đó.
V́ vậy cho nên chư
thiền sư hay nói: Phải như con ngỗng chúa, khi
uống sữa ḥa với nước, th́ chỉ uống
sữa mà chừa nước lại. Chuyện đó là
dễ hay khó? Cũng như vậy, ở sáu căn của
ḿnh, trong cái chỗ ḥa hợp đó, ḿnh phải làm sao
nhận ra được cái thuần tuư, tinh anh mà đừng
theo cái hư dối phân biệt. Đó là cái khôn ngoan khéo léo
mà ḿnh phải làm. Cho nên người tu phải khéo
nhận ra nơi ḿnh có cái tinh minh sáng suốt. Cái sáng
suốt đó phát ra ở sáu căn của ḿnh gọi là
sáu cái ḥa hợp. Khi mắt nh́n cảnh, tai nghe tiếng,
th́ đừng có lệ thuộc vào cái sinh diệt bên ngoài,
cái sinh diệt của vọng tâm. Mà nhờ sống
được với cái chân tâm. Đó là cái khôn ngoan như
con ngỗng chúa uống sữa mà bỏ nước
lại. H́nh ảnh này trong kinh Lăng Nghiêm do các thiền
sư diễn tả lại bằng h́nh thức lạ lùng.
Mới nghe th́ khó hiểu, nhưng đến lúc thâm
nhập hiểu được th́ lại rất là hay.
Khi ngài thiền sư Vân
Nham đến với ngài Quy Sơn, ngài Quy Sơn nói: "Nghe
nói ông biết làm sư tử múa phải không?" Ngài
vân Nham nói: "Phải". Hỏi: "Múa
được mấy xuất?" Th́ ngài nói: "Múa
được sáu xuất". Sau ngài Vân Nham được
thầy là ngài Dược Sơn hỏi: "Ông
biết làm sư tử múa phải không?" Ngài nói: "Dạ
phải." Hỏi: "Múa được mấy
xuất?" Ngài nói: "Con múa được sáu
xuất." Rồi ngài hỏi lại thầy: "Ḥa
Thượng biết làm sư tử múa không?" Ngài
Dược Sơn nói: "Biết." Hỏi: "Ḥa
Thượng múa mấy xuất?" Ngài Dược Sơn
trả lời: "Ta múa một xuất." Th́ ngài
Vân Nham kết luận: "Một tức là sáu, sáu
tức là một." Vậy hai thầy tṛ nói
chuyện cho vui hay là đang nói chuyện trong kinh Lăng
Nghiêm? Ông thầy nói một xuất tức là Nhất Tinh
Minh. Mà đệ tử nói múa sáu xuất tức là
Lục Ḥa Hợp. Lấy h́nh ảnh sư tử, v́ sư
tử là chúa loài thú, nó làm cho mọi loài thú đều
phải kinh hoàng. Bởi vậy cho nên cái chân thật này
ví như con sư tử. C̣n những cái khác, những cái
mộng tưởng phân biệt th́ ví như các loài thú
khác. V́ vậy biết làm sư tử múa là chỉ cho
biết được cái thể Nhất Tinh Minh. Một
xuất là Nhất Tinh Minh, mà sáu xuất là sáu cái ḥa
hợp.
Hiểu như vậy ḿnh
mới thấy rằng từ Phật tới Tổ đều
thấy rơ nơi ḿnh có một cái chân thật. Rồi
từ cái chân thật đó theo duyên mà phát ra sáu cửa.
Bởi vậy cho nên có đủ tâm chân thật mà ḿnh
không nhận, không biết, lại tưởng như là không
có.
Đến chuyện
một tổ sư Ấn Độ là ngài Ba la Đề. Vua
diện kiến hỏi ngài về Phậr Tánh. Ngài trả
lời: "Nơi thai gọi là thân. Ở đời
gọi là người. Nơi mắt gọi là thấy. Nơi
tai gọi là nghe. Nơi mũi phân biệt các mùi. Nơi lưỡi
đàm luận. Nơi tay nắm bắt. Nơi chân
chạy nhẩy. Biến hiện th́ khắp thế
giới, thu lại th́ chỉ trong hạt bụi. Người
hiểu cho là Phật Tánh, người không hiểu
gọi là tinh hồn." Quư vị thấy Ngài có
dấu diếm không? Như vậy th́ ở nơi tay, nơi
mũi, nơi lưỡi ... đều có mang tính chất
Phật. Nên trong kinh Pháp Hoa mới nói là "Tri Kiến
Phật". Hiểu th́ như con ngỗng chúa biết
lọc sữa uống mà chừa nước lại. Không
hiểu th́ như ḿnh uống luôn cả nước,
lọc không được.
Chư Tổ đă tŕnh
bầy thật rơ ràng, không dấu diếm một chút nào.
Nhưng v́ chúng ta mê muội nhiều đớ nên nghe dường
như hiểu, mà không sống theo được. Đó là cái
mê lầm muôn đời của chúng ta. Thiền sư Đại
An c̣n nói rất rơ là: "Cả thẩy các ngươi,
mọi người đều có viên ngọc lớn vô giá.
Từ cửa con mắt phóng quang soi sáng núi sông cây
cỏ. Từ cửa lỗ tai phóng quang nhận lănh
tất cả âm thanh. Sáu cửa ngày đêm phóng quang sáng,
cũng gọi là phóng quang tam muội. Các ngươi không
biết lại nhận bóng trong thân tứ đại."
Nói chung là ḿnh có
một ḥn ngọc quư. Nhà thiền gọi là ḥn ngọc
quư. Kinh Lăng Nghiêm gọi là Nhất Tinh Minh. Nhất Tinh
Minh hay là ḥn ngọc quư là một, nhưng tuỳ theo cái
duyên mà phóng ra sáu cửa. Khi nó phóng ra sáu cửa th́
ở tai nhận lănh âm thanh, ở mũi nhận lănh mùi hương.
Th́ như vậy nó hằng phóng quang ra sáu cửa mà ḿnh
không biết. Bởi không biết cho nên ḿnh nhận cái bóng
trong thân tứ đại. Cái bóng tức là những cái
vọng tưởng suy nghĩ. Khi suy nghĩ, chúng ta
chỉ suy nghĩ được những cái đă nghe tên,
đă thấy tướng. C̣n những cái chưa nghe tên
chưa thấy tướng th́ suy nghĩ không được.
Như vậy có danh có tướng là có cái bóng reo
rắc vào tâm hồn ḿnh, rồi từ cái bóng đó ḿnh
duyên theo đó mà khởi ra suy nghĩ. Như vậy nó là
cái duyên cái bóng mà ta suy nghĩ chứ không phải
thật.
C̣n cái hằng nghe
thấy th́ có lúc nào vắng hay không? Cái thấy cái nghe
bao giờ mà vắng mất. Nhưng suy nghĩ th́ chỉ
có khi nào duyên theo bóng của sự vật bên ngoài
mới có cái nghĩ. V́ vậy cho nên nơi ḿnh quên đi,
ḿnh không nhận được cái chân thật phóng ra
từ sáu cửa đó. Mà chỉ nhận cái bóng ở
trong thân tứ đại, tức là cái vọng tưởng
của ḿnh. Th́ như vậy, tất cả chúng ta bây
giờ sống bằng cái tinh thần hay cái tâm của ḿnh?
Nếu là cái tâm th́ là cái tâm nào? Là cái tâm duyên theo bóng.
Mà đă chạy theo bóng, duyên theo bóng th́ đó không
phải là thật. Mà ḿnh cả ngày cứ sống theo cái
bóng đó. Sống theo cái bóng không thật th́ sẽ
bị dẫn đi trong cái không thật, tức là đi
trong sinh tử luân hồi, như mộng huyễn. C̣n
nếu ḿnh sống chân thật th́ cái ṿng sinh tử luân
hồi mộng huyễn không c̣n nữa. Đó chính là cái
gốc của sự tu.
Khi tổ Huệ Khả
nhận được pháp tu từ tổ Bồ Đề Đạt
Ma, một hôm ngài bạch với tổ Bồ Đề Đạt
Ma rằng: "Từ đây về sau, con dứt hết
các duyên." Tổ Bồ Đề Đạt Ma mới nói:
"Chớ rơi vào đoạn diệt." Ngài thưa:
"Không rơi." Tổ hỏi: "Con làm
thế nào?" Ngài trả lời: "Con rơ ràng thường
biết, nói không thể đến." Tổ nói: "Đây
là chỗ truyền của chư Phật, chớ có hoài
nghi." Như vậy, Tổ đă chỉ cho chúng ta cái
chân thật đó. Cái đó nói ai cũng có, chỉ v́ ḿnh
không khéo nhận mà chỉ nhận cái bóng của sáu
trần. Khi ngài nói: "Dứt hết các duyên",
tức là cái tâm duyên theo cảnh theo bóng dáng sáu trần.
Khi quư Phật Tử
tập ngồi thiền, có những lúc mà tâm ḿnh
lặng, nếu không phải là mơ ngủ th́ lúc đó
ḿnh có thấy, có nghe và có biết ḿnh đang lặng hay
không? Mắt vẫn thấy, tai vẫn nghe, và đang
biết ḿnh lặng th́ đúng là "rơ ràng thường
biết". Đâu phải đợi tới có cái động,
tâm dấy lên rồi mới biết. Vậy rơ ràng là chúng
ta có cái thường biết hiển nhiên ở nơi chúng
ta. Nhưng mà khổ thay mọi người cứ đợi
vọng tâm dấy lên mới cho là tâm ḿnh, mới cho là
biết. Th́ đă quên mất cái rơ ràng thầm lặng
ở trong rồi. V́ vậy cho nên chúng ta phải nhận
cho ra ḿnh có cái rơ ràng thường biết đó, th́
đó mới là "tĩnh giác". Nhận lầm cái bóng
duyên theo ngoại cảnh đó làm tâm ḿnh th́ là mê. Mà
nhận chân được cái thật được
gọi là giác. Trong nhà thiền gọi đó là
"Kiến Tánh", tức là thấy được
bản tánh bất sinh bất diệt của ḿnh. Chữ
"thấy" không phải là mắt thấy mà là
nhận ra rơ ràng như vậy.
Bây giờ quư vị
biết ḿnh đă có cái tâm đó, th́ phải tin cho sâu,
nhận cho kỹ. Để nhận cho sâu cho đúng, tôi
dẫn lời của tổ Bá Trượng. Khi ngài
Thần Tán Học với tổ Bá Trượng trở
về chùa với thầy, th́ ông thầy tu theo kinh,
chỉ biết tụng kinh thôi. C̣n ông đệ tử
ngộ được lư thiền, không biết làm sao cho
thầy mau tỉnh. Ông lấy giấy dán lên cửa.
Ở trong có con ong bay ra, thấy giấy trắng nó cứ
chui đầu vào miếng giấy mà không chịu bay ra
cửa trống. Ông mới làm bài thơ châm biếm ông
thầy bằng h́nh ảnh con ong chui đầu vào
giấy. Đại ư là cửa trống mà không chịu ra,
chui đầu vào giấy biết đời nào ra
khỏi. Ông thầy nghe th́ hơi bực, nhưng cũng
lấy làm lạ mới hỏi: "Chú mày đi
học đạo mấy năm nay được ǵ mà sao
nói năng lạ vậy?" Ngài Thần Tán nói
rằng đă được tổ Bá Trượng
chỉ cho một con đường tu hành. Ông thầy cũng
bỏ qua.
Ngày kia ông thầy đi
tắm, đệ tử mới kỳ lưng giùm. Trong lúc
kỳ lưng th́ ông đệ tử vỗ vỗ sau lưng
mà nói: "Điện Phật đẹp mà Phật không có
thánh!" (Không có thánh tức là không có sáng.) Ông
thầy ngó lại hỏi: "Chú mầy nói cái ǵ?"
Nói: "Tuy Phật không sáng mà biết phóng quang."
Ông thầy nói: "Ngày mai để hội chúng
lại, để chú mày lên giảng cho tôi nghe coi." Th́
hôm sau, thầy làm thính giả ngồi ở dưới, c̣n
đệ tử lên trần tọa ngồi giảng. Bài
giảng đầu tiên của ông là dẫn lời ngài Bá
Trượng:
Linh quang độc
chiếu
Siêu xuất căn
trần
Thể hiện chân thường
Bất câu văn
tự
Tâm tánh vô nhiễm
Bổn tự viên thành
Đản ly vọng duyên
Tức như như
Phật
Qua câu đó rồi ông
thầy giác ngộ. Ông nói: "Tôi chưa bao giờ
được nghe giáo lư tuyệt vời như
vậy." Linh quang độc chiếu nghĩa là cái sáng
suốt long lanh chiếu rọi, có khác ǵ nói có ḥn
ngọc báu ở trong. Siêu xuất căn trần tức là
vượt khỏi sáu căn trần, sáu căn thuộc
về cái thân, là tướng sinh diệt, sáu trần
thuộc về duyên hợp, mà duyên hợp cũng là tướng
sinh diệt. Cho nên cái này vượt khỏi cả căn
và trần v́ nó không phải sinh diệt. Thể hiện
chân thường nghĩa là ở trong đó hiện
bầy cái chân thường. Bất câu văn tự là nó
không thuộc về chữ nghĩa. Tâm tánh vô nhiễm là
cái tánh của tâm không bị nhiễm, nói cái tánh của
tâm để chỉ cái tâm chân thật, không phải
chỉ cái tâm phân biệt hư dối. Tâm chân thật không
nhiễm v́ vậy mà Lục Tổ khi giác ngộ có nói bài
kệ sau đây:
Bản lai vô nhất
vật
Hà xứ nhạ
trần ai
Nghĩa là xưa nay nó
không phải một vật nào, th́ chỗ nào mà dính
bụi bậm? Tức là không nhiễm.
Bổn tự viên thành,
vốn tự tṛn đủ nghĩa là nó tự tṛn đủ
chứ không thiếu thốn ǵ hết. Đản ly vọng
duyên và Tức như như Phật, hai câu này có nghĩa
là muốn sống với tâm tánh không nhiễm đó th́
ĺa các vọng duyên (tức là cái tâm hư dối), lúc
đó gọi là "như như Phật". Phật là
giác, như như là lặng lẽ, tức là cái biết
lặng lẽ, hay là chân tâm.
Như vậy, ngài Bá Trượng
chỉ cho thấy mọi người chúng ta có cái chân
thật. Cái chân thật đó sáng suốt, siêu xuất
cả sáu căn trần, luôn luôn hiển bầy tướng
chân thật mà không vướng kẹt trong văn hay
chữ. Bản tính đó lại không ô nhiễm. Nó
tự tṛn đủ. Muốn sống với nó chỉ
cầm ĺa các vọng duyên th́ tự nó như như
Phật. Như vậy th́ t́m Phật khó hay dễ? Chỉ
chịu khó ĺa vọng duyên là được. Nói như
vậy th́ đường tu không phải xa mà cũng không
phải khó. Xa hay khó là tại ta chưa chịu ĺa
vọng duyên, chứ ĺa được th́ như như
Phật.
Để cho quư vị
thấy rơ hơn, tôi sẽ dẫn một đoạn trong
Tín Tâm Minh, Tổ Tăng Xáng có dạy:
Nhăn nhược
bất thụy
Tâm nhược
bất dị
Vạn pháp nhất như
Nhăn nhược bất
thụy, mắt mà nếu không ngủ, th́ chư mộng
tự trừ, tức là mộng không hiện ra. Tâm nhược
bất dị và vạn pháp nhất như là tâm mà không có
khác nghĩa là không có dấy niệm thứ hai hoặc
thứ ba nào, chỉ có một cái "rơ ràng thường
biết" mà không có dấy niệm nào khác th́ muôn pháp
là nhất, là như. Không khởi niệm là ví dụ cho
con mắt không ngủ, mà mắt không ngủ th́ đâu có
thấy mộng. Mà nếu dấy niệm như con mắt
ngủ th́ muôn pháp thiên thai vạn biệt, là mộng này
hết tới mộng kia. Như vậy, muốn hết
mộng th́ chịu khó mở mắt. Muốn cho tâm
cảnh nhất như th́ đừng khởi niệm. Không
có niệm khác th́ là nhất như. Thí dụ khi ngồi
nh́n trời nh́n mây mà không có một niệm nào hết,
th́ trời mây có phân biệt cái này đẹp cái kia
xấu, hay cái này tên A cái kia tên B ǵ không?
V́ vậy chủ
yếu của người tu là phải biết rơ làm sao
biết rơ cái chân thật, đừng chạy theo vọng
tưởng. Vọng tưởng lặng rồi th́ muôn pháp
nhất như. Chứ không phải nhồi uốn muôn pháp
để trở thành một khối nhất như. Do
đó ở đây nói "Tâm nhược bất dị,
vạn pháp nhất như" th́ chẳng khác ở trên
tổ Bá Trượng nói "Đản ly vọng duyên,
tức như như Phật."
Cũng trong Tín Tâm Minh có
đoạn ngài nói:
Viên đồng thái hư
Vô khiếm vô dư
Nhân do thủ xả
Sở dĩ bất như
Nghĩa là ḿnh có
thể tánh, tánh đó tṛn bằng hư không (thái hư là
trùm cả hư không.) Vô khiếm vô dư tức là không
thừa không thiếu. Hư không tới đâu th́ tâm
thể ḿnh tới đó. V́ tâm thể ḿnh không tướng
mà hư không cũng không tướng. Nhân do thủ
xả, sở dĩ bất như; thủ là lấy, xả
là bỏ, bởi ḿnh có lấy có bỏ nên không
được như. Nếu có lấy có bỏ, tức là
tâm có khác, có "dị" rồi. Mà tâm đă
"dị" th́ vạn pháp đâu có "nhất như."
Nếu bỏ cái "thủ xả" th́ sẽ
được "như". Th́ ta thấy tất cả
niệm khởi lên là theo hai bên - thủ hoặc xả,
khen hoặc chê, có hay không. V́ vậy cho nên c̣n chấp hai
bên là tâm không như. Vừa dấy niệm là đều
nằm trong cái "hai bên", nếu niệm lặng
xuống th́ là không hai. Đo là chỗ th́ết yếu
phải thấy cho thật rơ.
Khi kết thúc Tín tâm
Minh, tổ có nói: "Tín tâm bất nhị, bất
nhị tín tâm". Tín tâm th́ không hai, không hai là tín tâm.
Th́ ta tin tâm chưa? Nếu c̣n thấy hai là chưa tin.
Chữ tin ở đây không phải tin là biết có cái
đó. Chữ tin này là tin nhận là ḿnh nhận
được cái tâm chân thật. Mà muốn nhận
được tâm chân thật là tin tâm không c̣n thấy
hai. C̣n có hai là không bao giờ nhận được tâm
chân thật.
V́ vậy nên ngài
kết luận là "Tín tâm bất nhị, bất
nhị tín tâm." Bởi v́ cái tâm chân thật đó
là không có niệm. Mà dấy niệm tức là hai.
Muốn nhận nó th́ phải đừng dấy niệm.
Cho nên các chư tổ ngày xưa, khi ḿnh dấy niệm
hỏi cái ǵ có tính cách đối đăi th́ đều
bị ăn đ̣n. Chính là để tập cho ḿnh đặng
thấy đó là cái lỗi, đừng chạy theo nó
nữa. Nếu không theo hai nữa th́ mới tin được
tâm, tâm đó là tâm Phật. Nếu tin được tâm
đó tức là tin được ông Phật của ḿnh.
Tin được Phật ḿnh, nhận được
Phật ḿnh th́ sớm muộn cũng thành Phật. Cho nên
nói Kiến Tánh Thành Phật, mà ai tu lại không muốn
thành Phật. Mà muốn được thành Phật th́
phải tin nhận cái tâm của ḿnh, th́ phải đừng
bị cái vọng tưởng dẫn dắt.
Bây giờ tôi dẫn
trong kinh Chứng Đạo Ca một đoạn cho quư vị
thấy cũng y như vậy.
Thể nhược hư
không vô nhai ngạn
Bất ly
đương xứ thường trạm nhiên
Mịch tức trí quân
bất khả kiến
Nghĩa là cái tâm
thể đó giống như hư không, không có bờ
bến. Làm sao sống được cái thể đó và
làm sao mà biết được cái thể đó?
"Bất ly đương xứ thường trạm
nhiên" nghĩa là không rời ngay chỗ này, mà nó thường
lặng lẽ. Ngay chỗ này tức là chỗ ta đang
ngồi có cái lặng lẽ, tức là có ông Phật
hiện lên. Th́ như vậy đâu có phải chạy
đi t́m ở đâu, mà ngay ở đây có ông Phật
hiện tiền rồi. "Mịch tức tri quân bất
khả kiến" là khởi cái niệm t́m th́ mất tiêu,
không bao giờ thấy ông Phật đó. Lặng lẽ
ngồi yên như vậy th́ ông Phật hiện tiền,
giờ dấy niệm t́m th́ mất tiêu. Mới thấy cái
tâm thể của ḿnh là trùm khắp mà cái vọng tưởng
của ḿnh lại giới hạn trong con người. Khi
ta nghĩ về cái cây th́ vọng tưởng chỉ duyên
theo bóng của cái câỵ Nó có giới hạn, nghĩ cái
đó rồi nó mất.
Th́ như vậy, cái tưởng
giới hạn và tạm bợ mà ta cho nó là ḿnh. C̣n cái
tâm thể trùm cả hư không chưa bao giờ sinh
diệt ḿnh đă lại quên. Đó là điều thật
đáng thương cho chúng ta. Bỏ cái chân thật,
chạy theo cái hư dối để rồi lẫn
lộn trong ṿng luân hồi sinh tử. Bởi vậy cho nên
chư Phật, chư Tổ thương xót ra đời
chỉ cho ḿnh điều đó. Nhưng ḿnh không chịu
làm theo lời Phật dạy. Như vậy Phật,
Tổ phụ ḿnh hay là ḿnh phụ Phật, Tổ? Như
vậy mới thấy chúng ta là người quư kính
Phật, mà vô t́nh chúng ta bỏ rơi Phật. Công ơn
Phật chỉ cho chúng ta, chúng ta không cố gắng
thực hiện mà chúng ta đành bỏ qua để
rồi sống với cái cuồng loạn của chúng ta.
Bởi vậy cho nên ḿnh hiếu đạo để mà
tu, chớ không phải để mà nói.
Chúng ta làm sao ứng
dụng được những điều Phật tổ
dậy dỗ để ḿnh trở lại cái tâm chân
thật của ḿnh. Hăy nhớ cái thân này là tứ đại
ḥa hợp, cái tâm vọng tưởng đó là duyên theo bóng
dáng sáu trần. Mà cái ǵ hợp th́ cái đó phải tan,
cái duyên theo bóng dáng là cái hư dối, cái sẽ tan và cái
hư dối lại chấp thiệt là ḿnh. C̣n cái chưa
bao giờ sinh diệt trùm cả hư không mà ḿnh lại
bỏ quên. Như vậy có chăng đúng như trong kinh
Pháp Hoa mà nói chàng Cùng Tử lẽ ra nhận ḿnh là con ông
trưởng giả th́ kho báu đầy nhà, mà lại không
chịu nhận, đi hốt phân sống qua ngày. H́nh
ảnh đó mới nói lên cái tâm điên khùng của chúng
ta. Có cái chân thật chúng ta có quyền hưởng
trọn vẹn mà không chịu hưởng để
rồi đi nhận một cái rất là tầm thường
mà hài ḷng, mà hănh diện.
Như vậy những
người chạy theo cái tầm thường mà lại
hănh diện th́ ta thấy họ thật là đáng thương.
Nếu họ ngồi ăn một mân cơm đầy
những thứ cao lương mỹ vị th́ khi mới
nh́n thấy họ sang, họ ăn ngon. Nhưng mà lúc
đầy bụng khó tiêu rồi mới thấy khổ,
rồi một lát ra hôi hám, có ǵ đâu! Vậy mà hài ḷng,
vậy mà quư kính. Đó thật là khờ dại. C̣n cái chân
thật thanh tịnh sẵn sàng đó mà lại bỏ quên.
Như vậy chúng ta tu cốt là phải trở về cái
chân thật đó, sống được với cái chân
thật đó mới là biết đạo, mới
thật là người tu. Chứ c̣n chạy theo cái bóng dáng
bên ngoài, dù được bao nhiêu, dù hay bao nhiêu cũng là
ảo ảnh mà thôị cái chân thật đó gọi là
chân tâm hay là Phật Tánh.
Để kết luận,
tôi sẽ nhắc lại bài kệ của cư sĩ Bàng
Long Uẩn:
Đản tự vô tâm
ủ vạn vật
Hà phóng vạn
vật thường vi nhiễu
Thiết ngưu
bất hạ sư tử hống
Kháp tỏ mộc nhân
khán họa điểu
Mộc nhân bản
thể tự vô t́nh
Họa điểu phùng
nhân diệc bất kinh
Tâm cảnh như như
chỉ giá thị
Hà lư bồ đề
đạo bất thành
Tôi tạm dịch:
Chỉ tự vô tâm cùng
vạn vật;
ngại ǵ vạn
vật thường quấy nhiễu;
trâu sắt sợ ǵ
sư tử rống;
giống như người
gỗ xem chim vẽ;
người gỗ
bản thể tự vô t́nh;
chim vẽ gặp người
cũng chẳng kinh;
tâm cảnh như như
chỉ thể ấy;
nào sợ bồ đề
đạo chẳng thành.
Mở đầu
bằng câu "Chỉ tự vô tâm cùng vạn
vật", vô tâm đó là vô cái tâm mà Đức Phật
bảo các Tỳ Kheo "Đừng tin tâm các ông."
Vô tâm đó là vô cái "tâm vọng tưởng điên
đảo", th́ chỉ tự vô tâm cùng vạn
vật, tức là không có cái tâm điên đảo
chạy theo muôn vật. Th́ ngại ǵ vạn vật thường
quấy nhiễu. Th́ ngại ǵ nói rằng cái này cái kia nó
vây quanh tôi làm tôi tu không được. Thí dụ trước
ḿnh có một món đồ quư, món đồ quư người
ta để trước mắt ḿnh th́ nó là nó, ḿnh là ḿnh.
Chứ đâu phải tại cái món đồ quư này mà tôi
tu không được. Lại nói tại tôi thấy nó tôi
tham, tôi tham nên tôi tu không được. Chứ đồ
quư là đồ quư, ḿnh là ḿnh, đừng có dấy
niệm tham th́ có ǵ đâu mà tu không được.
Rồi qua những tiếng khen tiếng chê, th́ tiếng
khen tiếng chê qua rồi nó mất, ḿnh đừng thèm
quan trọng nó, đừng thèm dính tới nó th́ có ǵ
đâu mà tu không được. Nhưng mà được
người ta khen th́ cứ nhớ hoài, bị người
ta chê th́ cứ giận hoài th́ như vậy tu không
được. Tu không được là tại ḿnh
giữ nó lại, ḿnh duyên nó măi th́ tu không được.
Chứ nếu nó qua rồi th́ qua như gió thổi, như
những tiếng pháo nổ. Qua rồi th́ có ǵ đâu mà
tu không được.
Như vậy tu không
được là tại cái nào? Tại hữu tâm với
vạn vật đó phải không? Hữu tâm, thế gian
gọi là hữu t́nh. Thấy cái ǵ cũng cột cũng
níu ở trong đó cho nên rồi đổ thừa cái này
cái kia "mấy cái đó làm lăng xăng cho nên tôi
tu không được." Mà hỏi trên thế gian này
đứng chỗ nào mà không có cái lăng xăng? Th́
chỗ nào cũng có lăng xăng. Nếu ḿnh đừng
chạy theo nó th́ hết lăng xăng. Cho nên ông
đưa ra hai câu: "Chỉ tự vô tâm cùng vạn
vật" và "Ngại ǵ vạn vật thường
quấy nhiễu." Nó không quấy nhiễu ḿnh nếu
ḿnh không có tâm với nó. C̣n nếu ḿnh có tâm với nó
th́ đổ thừa tại nó quấy nhiễu ḿnh.
Rồi ngài dùng thí dụ "Con trâu sắt không sợ sư
tử rống." Bởi v́ khi sư tử rống lên th́
trâu hay voi cũng phải chạy hết. Bây giờ
gặp phải con trâu sắt, cho dầu sư tử
rống tới đâu, trâu sắt cũng không sợ. Đó
là thí dụ thứ nhất. Thí dụ thứ nh́ giống
như người gỗ xem chim vẽ. Người gỗ
mà đứng nh́n con chim vẽ th́ hai cái đó ra sao?
Ở đây ngài nói người gỗ bản thể
tự vô t́nh. Người gỗ đâu có t́nh, rồi
chim vẽ gặp người cũng chẳng kinh. Nó
thấy người gỗ nó cũng chẳng sợ.
Ba h́nh ảnh con trâu
sắt, người gỗ và con chim vẽ, cả ba đều
không sợ ai hết. Không sợ là sao? Là tại nó vô t́nh
vô tâm. Ḿnh nếu được vô tâm với vạn
vật th́ không có cái ǵ, vật nào có thể quấy
nhiễu ḿnh được. Ngài kết thúc bằng hai câu:
Tâm cảnh như như
chỉ thể ấy
Nào sợ bồ đề
đạo chẳng thành
Tức là đối
với cảnh, tâm ḿnh nó như như không có chạy
theo, th́ nào sợ bồ đề đạo chẳng thành!
Nếu tâm ḿnh không chạy theo cảnh, th́ đừng có
lo không thành đạo bồ đề, mai chiều sẽ
thành chứ không có lo ǵ hết. Sở dĩ ḿnh không thành
đạo bồ đề là tại cái tâm ḿnh chạy
theo cảnh. Nếu tâm không chạy theo cảnh th́ tâm
cảnh dều như như. Tâm cảnh như như th́
đạo bồ đề hiện tiền chứ không
phải kiếm đâu nữa hết.
Như vậy để
thấy rằng chư Phật, chư Tổ đều
chỉ rơ chỗ yếu điểm tu hành cho ḿnh đó. Cái
yếu điểm đó là tâm đừng chạy theo
cảnh. Tâm không chạy theo cảnh th́ tâm cảnh như
như. Mà tâm cảnh như như th́ đó là đạo
bồ đề hiện tiền. Như vậy khi muốn
thành Phật, Phật cũng hiện ra trước
mắt. C̣n ḿnh nóng t́m kiếm mà tâm cứ động hoài
th́ không bao giờ thấy Phật. V́ vậy cho nên mong
rằng qua năm mới tất cả tăng ni phật
tử chúng ta, kể cả tôi nữa, đều nỗ
lực cố gắng tu hành. Mà tu hành ở đây không có
nghĩa là chúng ta phải lậy một ngày vạn
Phật hay là sám hối ngày mười thời, mà chúng
ta phải đừng để tâm chạy theo cảnh. Tâm
và cảnh được như như đó là yếu
tố chúng ta không có phụ công ơn Phật, Tổ và các
vị Thiện Trí Thức đă chỉ dậy chúng ta. Như
vậy mới xứng đáng con gịng họ Thích, mới
không hổ thẹn xưng ta là Thích Tử. Chứ c̣n
để tâm rong ruổi theo vọng cảnh th́ dẫu chúng
ta thương Phật thế mấy cũng không gặp
được Phật.
Thích Thanh Từ