Nghi thức thắp nến:

 

 

Các cổ thư của Ailen chỉ nhắc về ngày hội Beltaines, lửa của Bel, vào ngày mồng Một Tháng Năm, để đánh dấu khởi đầu mùa hè. Các vùng văn hóa du mục, người ta thắp ngọn lửa để đàn gia súc đi qua. Việc đi qua lửa ấy có tính ngăn chặn tiêu diệt mầm bệnh dịch, bảo đảm sức khỏe cho đàn gia súc.

Nghi lễ lửa mới của người Chortis cử hành trong ngày lễ giao mùa, trước ngày gieo hạt, người ta châm lên một giàn thiêu lớn đốt cháy những trái tim chim và những động vật khác. Trái tim tượng trưng cho các thần linh mà trong thần thoại về Popol – Vuh, là hai anh hùng song sinh chịu chết trên giàn hỏa thiêu, sau đó hóa thân thành những đọt ngô xanh. Như vậy, khi cử hành lễ lửa mới này người ta muốn diễn tả ư nghĩa của việc chết đi và sống lại.

Đối với dân tộc K’ Ho, người Lạch vùng cao nguyên Lang Bian, bếp lửa  mang một ư nghĩa rất quan trọng. Bếp lửa ngoài công dụng nấu chín thực phẩm c̣n là một ḷ sưởi, c̣n là nơi quy tụ cả gia đ́nh để chia sẻ với nhau bữa ăn cũng như lửa ấm. Lễ hội bao giờ cũng gắn bó với nghi thức thắp lửa thiêng. Lửa xua đuổi thú dữ, đẩy xua muỗi ṃng, tạo bầu khí ấm áp, tạo nên những gặp gỡ… Không gia đ́nh nào là không có bếp lửa. Những người xưa trong làng bao giờ cũng muốn ở gần bếp lửa, cho dù nhà có thể xây sửa sang trọng như thế nào.  Bếp lửa, đối với họ c̣n là gia đ́nh, một gia đ́nh hạnh phúc là một gia đ́nh bếp lửa giữ được lửa cháy.

Trong nghi thức làm phép Lửa mới, người Kitô hữu được mời gọi: “Trong Đêm Thánh này, Đêm Đức Giêsu, Chúa chúng ta, đă ḥan tất mầu nhiệm vượt qua, tức là từ cơi chết sống lại, Hội Thánh kêu mời các con cái ở khắp nơi trên ḥan cầu cùng họp lại mà canh thức cầu nguyện ”. Lời mời gọi này bao gồm các ư nghĩa biểu trưng của lửa trong các nền văn hóa, thật sự là cần thiết để các nền văn hóa ấy được Đức Giêsu Kitô mang tất cả vào trong cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Người, ở đó một nhân loại mới được khai sinh, một nền văn hóa mới là cùng đích cho các nền văn hóa hướng tới được ḥan thành.

Sự ḥan thành trong Đức Giêsu Kitô làm nên những khao khát bùng lên như trong Ánh Lửa Đêm Phục Sinh: “Lạy Chúa, Chúa đă sai con Một đến giải ánh vinh quang rực rỡ của Chúa vào ḷng tín hữu. xin thánh hóa ngọn lửa mới này, và trong suốt thời gian mừng Lễ Vượt Qua, xin cho niềm khao khát Nước Trời cũng bừng lên thiêu đốt ḷng chúng con, và thanh tẩy muôn vàn tội lỗi, để mai sau chúng con xứng đáng vào thiên quốc tham dự lễ ánh sáng muôn đời”. Lửa ở đây là lửa thử thách và cũng là lửa an b́nh, thử thách như trong Lễ Vượt Qua chỉ là nhất thời, b́nh an, một tặng thưởng vĩnh viễn. Cũng như Lửa có biểu trưng là  phương tiện vận chuyển, mọi sự vận chuyển của các nền văn hóa bằng lửa, được tháp nhập vào trong Lửa Mới Phục Sinh này để cùng được tháp nhập để nên một nhờ Đức Kitô. 

Cây Nến trong Đêm Vọng Phục Sinh tượng trưng là Đức Kitô Phục Sinh, Ngài đă chiến thắng tử thần là bóng tối, ánh sáng của đêm này xé tan màn đêm u tối, là ánh sáng muôn ngàn đời như trong bài Exsultet diễn tả: “Đêm cực thánh khử trừ muôn tội vạ, đêm vạn năng thanh tẩy hết mọi lỗi lầm, biến tội nhân trở thành người công chính, đem niềm vui cho tâm hồn mang nặng sầu thương. Đêm tiêu diệt hận thù, đêm giải ḥa bất thuận, khuất phục mọi quyền uy”. 

Mọi người trong đêm này, trên cây cầm cây nến thắp từ ánh lửa Cây Nến Phục Sinh, cùng rước theo sau Cây Nến Phục Sinh. Theo các tục lệ thửa xưa, những người trinh nữ cầm trên tay một cây nến sáp được thắp sáng, theo Guillaume Durand (thế kỷ XIII), giải nghĩa tục lệ này, để chứng tỏ rằng họ cũng noi gương theo các trinh nữ được diễn tả trong Phúc Âm (Mt 25, 1 – 13) luôn sẵn sàng đón đợi tân lang là Thiên Chúa. Lễ thức này theo tập tục của người Hy Lạp lẫn người La mă thực hành: “cô dâu với một đ̣an người tháp tùng long trọng trong ánh đuốc, được dẫn từ nhà ḿnh đến nhà người chồng tương lai, những người đàn ông đă có gia đ́nh cũng cầm đuốc, tục lệ nay vẫn c̣n. Ngày xưa tại Hy Lạp, người ta dâng nến sáp cho các thần linh cơi âm. Đức Giáo Ḥang Phaolô VI, trong khi tiếp các nữ tu ngày 2 – 2 - 1973, ngài đă đưa ư nghĩa này đến vị trí quan trọng hơn: “Cây nến sáp biểu trưng cho nguồn sáng tinh khiết và nguyên thủy mà các nữ tu phải soi sáng cho ḿnh bằng ánh sáng ấy. Thẳng tắp và mềm mại, cây nến sáng là h́nh ảnh của sự trong sáng, vô tội. Cháy lên và tỏa sáng, nó biểu thị cho cuộc sống được hiến dân ṭan vẹn cho T́nh Yêu duy nhất, nồng cháy, ṭan trị…Cuối cùng, cây nến sáp tự tiêu hao ḿnh trong thinh lặng, giống như cuộc đời của các con tự hao ṃn v́ ḿnh đă dâng hiến trái tim, để tháp nhập cuộc đời hy sinh của các con vào cuộc tử nạn của Chúa Giêsu trên Thánh Giá; trong t́nh yêu  đau khổ và hạnh phúc, không tàn lụi trong ngày cuối cùng mà sẽ c̣n tiếp tục cháy rực rỡ măi măi trong cuộc hội ngộ vĩnh hằng với Đấng Phu Quân”. Như vậy, cầm nến trên tay, bước theo cây nến Phục Sinh c̣n là biểu lộ sự ṭan hiến của đ̣an người theo Chúa Kitô. Ước mong là ánh sáng chiếu vào trong nhân loại, thắp sáng những bóng tối trong các lănh vực để gầy lên những hy vọng.

Bài ca Exsultet nói lên những ư nghĩa quan trọng đó trong ánh lửa Đêm Phục Sinh, là “được đốt lên để tán tụng Cha”, “được phân chia nhưng không hề hao ṃn”, “lửa xua đuổi bóng tối”, “để nhập hội hoa đăng cùng với muôn vàn tinh tú” và “cháy măi lúc xuất hiện Sao Mai: Một v́ sao không bao giờ lặn, là Đức Kitô, Con yêu quư của Cha, Đấng từ cơi chết sống lại, đem ánh sáng thanh b́nh soi chiếu vạn dân”.

Thắp lên niềm tri ân, cây nến ngọn lửa, biểu trưng của cuộc đời đầy khát khao được cháy bỏng, được đốt cháy, nấu chảy để được khuôn đúc lại trong Đức Giêsu Kitô. Đây là khát vọng của một nhân loại đang xa rời Chúa, một nhân loại đang bước đi trong sự chen lẫn Ánh Sáng vá bóng tối. Xin cho mỗi chúng con trở thành từng cây nến thắp sáng tin yêu nơi chúng con hiện diện.

L.m Giuse Hoàng Kim Toan