Trút bỏ, một kinh nghiệm cá nhân.
Đời sống mỗi người đều có những giây phút vui buồn chen lẫn trong cuộc sống, có những căng thẳng khi phải giằng co trước mỗi chọn lựa, mệt mỏi trong những công việc sáo ṃn, kéo dài lê thê cuộc sống buồn chán. Có rất nhiều những sự kiện kéo căng cuộc sống, dễ làm mất b́nh tĩnh, cáu gắt, tỵ hiềm, ghen ghét. Nếu thiếu kinh nghiệm về trút bỏ và phục hồi của cá nhân cuộc sống sẽ thật nặng nề và khó thở. Để b́nh tĩnh trước mọi việc xảy ra, để luôn giữ những điều chính yếu cách trung thành, và bền tâm thực thi điều ngay chính, người đó đă trải qua những kinh nghiệm kenosis cách sâu xa.
Ngậm vành cắn cỏ là
một h́nh thức trút bỏ rất Việt của người
Việt
Kinh nghiệm trọn vẹn con
đường trút bỏ của cá nhân hẳn là
một điều cần thiết để biết
được rằng điều ǵ thuộc về
trời và trách nhiệm nào thuộc về nhân, chứ
không sống bao hàm: “Mưu sự tại nhân, thành
sự tại thiên”. Kinh nghiệm trút bỏ của
từng cá nhân là căn bản cốt lơi, của đạo
cổ nhân vẫn dạy: “Nhật nhật tân”,
mỗi ngày đổi mới và mới hơn. Trong
chiều hướng ấy chúng ta có` thể giới
thiệu con đường trút bỏ của người
Kitô hữu.
Người Kitô hữu có một
chọn lựa là theo Chúa Giêsu. Theo Chúa, có nghĩa là
từng ngày sống cuộc đời của Đức
Giêsu tại thế. Con đường Đức Giêsu
từ lúc sinh ra đến lúc chết đi là một
kinh nghiệm sâu xa về trút bỏ, bao lâu c̣n là người,
bấy lâu cần được trút bỏ để
mặc lấy con người mới.
Kenosis, đối với Đức Giêsu, có trong bốn chiều kích: Tương quan với Chúa Cha (tương quan siêu nhiên) – Tương quan với Sứ vụ - với mọi người và với chính bản thân - giới thiệu một phương pháp.
Chiều kích siêu nhiên không thể thiếu trong mội kinh nghiệm Kenosis khi sống cuộc sống con người. Những người tin vào ông Trời trong mọi bức xúc của ḿnh đều có một kinh nghiệm khi kêu lên tiếng: “Trời ơi”. Tiếng gọi ấy không đơn thuần là một tiếng kêu gửi đến nơi không địa chỉ. Người Việt tin rằng trong mọi biến cố của con người đều có trời chứng giám. Trời ma người Việt kêu cầu là Đấng vô danh mà họ chưa biết, giống như quan niệm thờ kính của người Hy Lạp goi danh Vị Thần Linh trên hết mọi Thần Linh là Đấng vô danh, Thánh Phao Lô nói với những người ấy tại Athène, Vị Thần Vô Danh ấy là Thiên Chúa. Cha Alexandre de Rhodes, đă dùng quan niệm Trời này của người Việt mà chỉ cho họ thấy rằng Trời ấy là Thiên Chúa của họ và gọi theo danh xưng của người Việt đó là Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời thấu biết mọi sự, cũng như Trời biết tất cả, Trời coi sóc tất cả, những oan ức của con người đều thấu đến trời cao.
Kinh nghiệm của Chúa Giêsu th́
khác, Ngài biết Ngài từ Cha mà đến. Ngài đă
sống mầu nhiệm tự hạ như cách giới
thiệu của Thánh Phao lô: “Dầu là Con Thiên Chúa, Người
đă phải trải qua nhiều đau khổ mới
học được thế nào là vâng phục;9 và khi
chính bản thân đă tới mức thập toàn, Người
trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu
cho tất cả những ai tùng phục Người”[4].
Sở dĩ trở thành một mầu nhiệm tự hạ nơi Đức Giêsu là người ta không thể hiểu được một Thiên Chúa lại làm người như họ làm chi? Theo quan niệm ngày xưa thời Đức Giêsu của người Do Thái, thân xác con người là bị thịt giam hăm linh hồn, (triết học Platon), c̣n linh hồn ở một thượng giới không có đau khổ và chết chóc. Chui vào bị thịt này làm chi để rồi phải học lấy bài học “vâng phục cho đến chết và chết trên Thập Giá”[5].
Thân phận của con người là thế đấy, khi Con Thiên Chúa làm người cũng sống như kiếp phàm nhân, ngoại trừ Ngài không vướng vào ṿng vây tội lỗi. Ngài kinh nghiệm những sự giả trá của con người, bất b́nh khi thấy những con người xô nhau xuống vực, như đă có lần họ muốn xô Ngài xuống vực. Con người trong những bức xúc của ḿnh thường kêu Trời, chúng ta cũng gặp nơi Đức Giêsu kêu khấn lên cùng Cha trước giờ tử nạn của Ngài: “Cha ơi, xin Cha cho con qua khỏi chén này”. Lời cầu nguyện với Trời cao trong kinh nghiệm này là một “Kenosis”, phó mặc, trút bỏ những gánh nặng đang mang hoặc sắp mang trong tay Cha. Cũng như các than thở của người Việt: “Khấn Trời soi xét”. Kinh nghiệm do một lời cầu xin là một kinh nghiệm về sự trút bỏ. Không có tiếng kêu này, không có nơi đón nhận này, con người không bao giờ chịu nổi gánh ḿnh đang mang.
Không chỉ kêu Trời trong những lúc quẫn bách, nhưng người Việt c̣n gọi Trời khi gặp điều phước lộc “Trời ơi, hạnh phúc quá, hân hạnh quá, vui quá, diễm phúc quá…”. Trời được cảm nghiệm như người mẹ hiền, chăm sóc cho đàn con được hạnh phúc. Người Việt tạ ơn Trời là cảm thấy niềm vui của những ngày vui chất chứa không biết để đâu cho hết. Trút bỏ cho Trời là một kinh nghiệm về Kenosis trong những ngày được mùa, ấm no và hạnh phúc. Không có trút bỏ này con người cũng không thể là một niềm vui trọn vẹn. Niềm vui càng lớn sức lan toả càng mạnh, lan toả đến trời cao là một ư thức sẵn có của nền văn hoá dân tộc: “Ơn Trời mưa xuống”. Đức Giêsu đă có lần ngước mắt lên Chúa Cha mà hoan hỉ cầu nguyện tạ ơn: “"Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, v́ Cha đă giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn.Vâng, lạy Cha, v́ đó là điều đẹp ư Cha”[6]. Nhờ Đức Giêsu mà chúng ta biết Cha và cũng tạ ơn như thế. Trong Kinh Cám ơn thường quen đọc: … “Đă không để con đời đời mà lại sinh ra con, cho con được làm người…” Làm người là một diễm phúc ân ban của Chúa Trời, nên trong niềm vui con người, tự nhiên là tạ ơn. Tạ ơn trong kinh nghiệm kenosis là nhận ra chính ḿnh được đón nhận nhiều hơn các thọ tạo khác. Sự không là ǵ của ḿnh mà Chúa thương đoái đến. Có kinh nghiệm này, con người chúng ta mới thấy rằng cần thiết phải có một sự “đổ rỗng”, “đổ rỗng” nhiều để được “đổ đầy” nhiều. Kinh nghiệm của Tagore một thi hào và là một Triết gia Ấn Độ, người Kitô hữu chúng ta vẫn hát qua việc phổ nhạc của Ân Đức: “Hồng ân Chúa, tràn đầy tháng năm, tay con nhỏ bé đón sao cho vừa. Hồng ân Chúa, vô biên vô tận, tay con nhỏ bé nhưng hăy c̣n vơi”. Có thể nói kinh nghiệm “đổ rỗng” của Đông Phương thật là sâu xa, nguồn cảm mến sâu xa này, lại bắt nguồn từ chính cuộc sống nhờ trời thường xuyên của những người sống trong nền văn hoá lúa nước.
Cầu Trời trong mọi lúc là
tâm thức của người Việt. Người
Việt tin rằng “Trời có mắt”, Trời không
giống như quan toà soi xét mà c̣n là quan tâm đến
từng manh áo, chén cơm của con người.
“lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi
uống, lấy ruộng tôi cày, lấy đầy bát cơm”.
Khởi đi từ những ǵ rất cụ thể, như
chén cơm manh áo, nhưng không v́ vậy mà tâm hồn người
Việt chịu sự nhỏ nhen, tỵ hiềm, mà thường
thấy tâm hồn người Việt lại rất bao
dung, chuộng hiền hoà hơn gây chiến tranh. Nguyên
do, không có lời cầu mong trời nào mà không phát sinh
những ân huệ khác hơn những ǵ ḿnh cầu xin.
Sự trút bỏ của từng ngày khi câu khấn
trời, có ư nghĩa hơn tất cả những ǵ
họ đang làm. Miền quê
Xưa kia việc nhờ thần linh chứng giám hay can thiệp vào những sự kiện đời thường là một điều b́nh thường. Nhưng đưa vào sự kiện của một quốc gia và lập thành một nghi thức trọng thể của vua quan trước dân th́ điều ấy thật hiếm hoi. Thời nhà Lư, nghi thức ấy đă khởi đầu và được ghi chép trong sử sách để ngàn năm trông theo.
Hội Thề lần đầu tiên mang tính chất quốc gia được tổ chức tại Đền Thờ núi Đồng Cổ. Người xưa tin rằng tại núi này có vị thần linh đă từng giúp vua Lư Thái Tổ (1010 – 1028) đánh thắng quân Chiêm năm 1020; vị thần đă mộng báo cho Lư Thái Tông loạn tam vương, (tức là việc Vũ Đức Vương, Đông chính Vương và Dực thánh vương giành ngôi vua với thái tử Lư Phật Mă vào tháng 2 - 1027). Hội thề Đồng Cổ được tổ chức khá đều trong triêu Lư. Đến thời Trần, năm Đinh Hợi, Trần Thái Tông ra các khoản minh thệ cho nội dung lời thề. Đại Việt sử kư toàn thư chép lại như sau:
“Hằng năm, vào ngày mùng 4 tháng 4, tể tướng và trăm quan đến chực ở ngoài cửa thành từ lúc gà gáy, đến tờ mờ sáng th́ tiến vào triêu. Vua ngự ở cửa Hữu Lang điện Đại Minh, trăm quan mặc nhung phục, lạy hai lạy rồi lui ra. Ai nấy đứng thành đội ngũ, sắp nghi trượng mà theo hầu ra cửa Tây Thành, vào đền thờ núi Đồng Cổ, họp nhau uống máu ăn thề. Quan trung thư kiểm chính tuyên đọc lời thề rằng : “làm tôi tận trung, làm quan trong sạch, ai trái lời thề này xin thần minh giết chết”. Đọc xong, tể tướng sai đóng cửa để điểm danh, người vắng mặt phải phải năm quan tiền. Ngày hôm ấy, trai gái bốn phương đứng chật ních bên đường để xem như một ngày hội lớn”[8].
Hội thề có một ư nghĩa quan trọng trong đời sống sứ vụ của một người lănh đạo, ở nơi đó người ta học cách vựơt qua những cám dỗ sử dụng quyền được trao thành lợi thế để trục lợi. Cám dỗ này thường xuyên chi phối người nắm quyền. Không có lời thề nhắc nhở, hoặc có một lư tưởng dấn thân, người ấy sẽ dễ rơi vào t́nh trạng lạm dụng quyền hành.
Tuy nhiên, để thắng cám dỗ thường ngày cần có một kinh nghiệm khác về kenosis. Đối với người Việt, từ quan tới dân đều có một vị thánh sư nào đó trong nghề nghiệp của ḿnh để rèn nhân cách cũng như để rèn luyện nghề. Gọi chung đó là h́nh thức tín ngưỡng Bách nghệ tổ sư. “Ăn nắm xôi dẻo, nhớ nẻo đường đi” là tâm thức nhắc nhở nhớ ơn người khai sáng nghề. Có thể thờ tổ sư nghề ngay tại gia, hoặc là thành hoàng của làng.
Trong tín ngưỡng bách nghệ tổ sư dẫn dắt một tinh thần chung: Đó là một chỗ dựa tinh thần cho những người làm nghề, ư thức nghề nghiệp có một nguồn cội – ḷng biết ơn với tổ sư nghề - ôn cố tri tân. Biết sức ḿnh là một khía cạnh nhưng thành toàn là nhờ vị tổ sư, cho nên cần có một thần phả hay thần tích để học theo gương, dơi theo tích mà tu thân tu nghiệp.
Ở một tâm hồn tôn giáo dễ mến như dân tộc Việt, khi đón nhận Tin Mừng của Chúa, dường như họ t́m được những đích điểm của cuộc đời. Chúng ta thấy, những người theo đạo buổi ban đầu không ngừng gia tăng một cách nhanh chóng. Các vị thành hoàng hay thánh sư dần dần được mang theo một ư nghĩa mới, hoặc được thay đổi cho phù hợp với đức tin. Thánh bổn mạng cho từng người hay cho một làng hoặc cho một nghề dễ dàng được chấp nhận.
Chúa Giêsu đă cầu nguyện trước và sau mỗi sứ vụ của Ngài, cầu nguyện tự thân là trút bỏ mọi lo lắng hay thành công hoặc thất bại cho Chúa Cha. Ở nơi đó, Chúa Giêsu học cho biết sự vâng phục. Người Kitô hữu Việt khi tiếp nhận cách thức cầu nguyện của Chúa Giêsu, cũng mang tâm t́nh ấy. Họ tín thác vào Thiên Chúa, hơn khi xưa đặt niềm tin vào vị thành hoàng hay vị tổ sư nghề của ḿnh. Bởi v́, ngoài việc cầu nguyện của người Kitô hữu, họ c̣n được hướng dẫn cách cụ thể bằng giáo lư của Chúa. Bước đi, trao phó mọi sự trong tay Chúa, họ biết chắc, họ không thất vọng bao giờ. Giáo lư về đạo củng cố niềm tin ấy cho họ. Hiệu quả cuối cùng là họ được dẫn dắt ra khỏi những điều mê tín dị đoan, khỏi những niềm tin vô căn cớ hoặc xây dựng trên huyền hoặc.
T́nh làng nghĩa xóm là thái độ của người dân Việt sống với nhau. T́nh cảm này quan trọng hơn huyết thống khi ở xa: “bán họ hàng xa, mua láng giềng gần”, t́nh cảm này xuất phát từ ư nghĩa của cuộc sống thường ngày: “tối lửa tắt đèn có nhau”. Ư nghĩa của việc sống liên kết đó đưa đến một đời sống chia sẻ: “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”. Việc sống “t́nh làng nghĩa xóm” dẫn đến ḷng vị tha: “lấy chín bỏ làm mười”, hoặc mang trong tâm tưởng lời dạy xưa: “lấy nhân nghĩa để thắng hung tàn”.
Những cách thức này là t́nh trạng trút bỏ của đời sống thường ngày, trút bỏ tinh thần ích kỷ để củng cố giá trị cộng đồng. Trút bỏ hiềm thù cá nhân để xây dựng mối liên kết. Khó có người Việt nào mang mối thù truyền kiếp, bởi họ luôn gặp những lời khuyên nhân nghĩa để tha thứ: “Ở hiền gặp lành”, “Lấy ân đền oán”, ...Từ đó h́nh thành nên những tiêu chuẩn của cuộc sống: “mẫu hiền di đức”; “trọng đức hơn trọng tài”, “cái nết đánh chết cái đẹp”… Bởi đó trong lối sống người Việt, bao giờ cũng quư trọng người đức độ hơn những người có tài mà không có đức.
Đức độ ấy t́m thấy một sự thành toàn nơi Đức Giêsu, khi giới thiệu Đức Giêsu cho những người sống đời tu hay tận hiến, Cha Maiorica đă giới thiệu tập sách “Dạy đi đàng nhân đức lọn lành”, để chuẩn bị tâm hồn của người thợ gặt trên cánh đồng truyền giáo Đất Việt.
Khi rao giảng cuộc đời Đức Giêsu, người Việt gặp được một con người hay thương xót trước những phận người bé nhỏ, là một con người nhạy cảm trước sự dữ, là một con người sẵn ḷng tha thứ, nhân hậu…Tất cả những điều ấy chinh phục tâm hồn Việt hơn bất cứ điều nào. Thưở đầu buổi truyền giáo trong dân đă có lời truyền tai về một đạo mới mà người ta gọi “đạo những người yêu thương nhau”. Chính những hành vi tương quan nhân ái này là một bằng chứng thuyết phục tâm hồn Việt hơn hết. Người Việt lúc nào cũng ảnh hưởng nhiều bởi t́nh thương hơn là lư thuyết. Kinh nghiệm này cho thấy việc thực thi đức ái Kitô giáo vẫn là một lợi thế khi truyền giáo.
Khi hướng tới người khác là ra khỏi chính ḿnh, khi đón nhận người khác là trút bỏ chính ḿnh, khi liều mạng sống ḿnh cho tha nhân là khi hoàn toàn từ bỏ chính ḿnh. Đó là những cấp độ kinh nghiệm Kenosis mà từng cá nhân trải qua.
Cũng vậy, kinh nghiệm về Kenosis sẽ nhiều hơn khi cấp độ từ bỏ cao hơn. Khi tha thứ cho người khác là trút bỏ yếu đuối của ḿnh, khi bao dung với người khác là trút bỏ hiềm thù nơi ḿnh, khi quảng đại với người khác là khi trao luôn chính ḿnh.
Sống làm người ai cũng có những giới hạnnhất định, những giới hạn ấy nằm ngay trong chính bản thân, muốn làm điều thiện th́ lại luôn vướng vào điều dữ, điều không muốn làm th́ cứ làm. Đó chính là thân phận con người. Làm sao ra khỏi chính ḿnh? Đức Giêsu ra khỏi chính ḿnh mỗi ngày bằng cách: “làm theo Ư Chúa Cha”, đến khi nói rằng: “Lương thực của Ta, là làm theo ư Cha”. Như vậy, để ư Cha thành sự, Đức Giêsu đă sống tùy thuộc vào Cha ḥan toàn trong mỗi ngày sống cho đến khi trở về bên Chúa Cha. Phương pháp để ư Cha được thực hiện là đời sống cầu nguyện, Chúa Giêsu thường ra nơi vắng vẻ cầu nguyện, cầu nguyện là tương quan mật thiết như hơi thở cần cho cuộc sống.
Rao giảng Đức Kitô trong
một truyền thống văn hóa Việt chúng ta có
thể thấy nhiều kinh nghiệm trút bỏ trong kho tàng
ấy liên quan đến một đời con người,
từ sinh cho tới tử:
Trong nghi thức ṿng đời người có rất nhiều kinh nghiệm về t́nh trạng kenosis này: Có thể kể:
H́nh thức tắm cho đứa trẻ mới chào đời: Trút bỏ đời sống thai nhi để bắt đầu sống cuộc đời độc lập cho sứ vụ cuộc đời của chính đứa trẻ.
Đầy cữ, cữ là thời gian chín ngày (con gái), bảy ngày (con trai), đủ thời gian này người mẹ phải cúng “bà mụ”, sự sống là do bà mụ nhào nặn nên trả về cho bà mụ chăm sóc nuôi dưỡng. Sự sống này, thân xác này thuộc về người đă nhào nặn nên nó.
Kính Cáo Tổ tiên: Tin Mừng cho tổ tiên, cây đă có chồi, có lộc, phước đức cho ḍng họ không bị khô chồi, không lộc.
Đầy tháng và đầy năm:
Lễ cúng đầy tháng cũng giống như cúng
đầy cữ. riêng cúng đầy năm có thêm
một chi tiết khá quan trọng trong đời người,
đó là “thí nhi” theo cách gọi của người
Trung Hoa. Tục này, người ta chuẩn bị cho đứa
trẻ thật sạch se, nó được trút bỏ hoàn
toàn khỏi uế bẩn, để vào một nghi
thức quan trọng: người nhà bầy trên mâm cung tên,
bút giấy (đối với con trai), Kim chỉ, dao kéo
trên mâm con gái, có khi có cả đồ chơi. Đứa
trẻ sẽ chọn theo sự khôn ngoan của nó.
Sự chọn lựa của đứa trẻ tuy nó vô
ư thức trong khi lựa chọn, nhưng mang một ư nghĩa
khác. Đó là trao gửi tương lai của con cái cho
thần linh coi sóc.
Áo dấu: Là một h́nh thức được đưa vào Kitô giáo Việt Nam rất sớm, thời Cha Alexandre de Rhodes đă tặng cho giáo dân người Việt những bức ảnh đeo ấy, được người Việt đón nhận rất chân thành. Thời xa xưa ấy, trong những lễ hội lên chùa, người Việt thường hay mang những miếng vải hay chiếc áo đă may sẵn lên chùa để lấy dấu của chùa. Những chiếc áo dấu (Không có quần dấu) này mang về cho trẻ mặc để tránh những bệnh tật và cầu mong được phúc lành của thần linh. Không được giặt áo dấu này với những quần áo khác. Những người Kitô hữu thời các cha ĐaMinh coi sóc trên đất Việt có mang theo áo Đức bà để cho giáo dân đeo. Người đeo ảnh áo ấy th́ tin rằng họ sẽ được Đức Bà cầu bầu, sẽ được chết lành.
Đặt tên cho con: Ngày xưa
một đứa trẻ ra đời không phải khai
sinh, không có hộ tịch, nhưng được
quản lư bằng cách là vào sổ làng, sổ làng
chỉ ghi con trai, sau khi vào sổ làng mới đưa tên
của đứa trẻ kính cáo tổ tiên và ghi chép vào
gia phả. Có khi người ta đặt tên cho con
rất muộn, c̣n bé thường gọi thằng Tèo,
thằng Tư, trước khi lấy vợ hoặc lấy
chồng mới đặt tên. Tên có thể thay đổi
nếu có gặp trường hợp phạm huư hay
phạm tên kiêng, hoặc cái tên đó không tiến thân
được cần được đổi tên. Ví
dụ, trường hợp cụ Yên Đỗ, trước
khi lấy tên là Nguyễn Khuyến, cụ có tên là
Nguyễn văn Thắng, do mang tên Thắng thi trượt
khoa thi Hội năm Ất Sửu cụ đổi tên
Nguyễn Khuyến và đỗ Tam Nguyên năm Tân Mùi. Tên
đối với người Việt là rất quan
trọng, tên không những là người, c̣n là biểu
hiện ước muốn con nên giống như người
mà nó mang tên. Do đó, khi đặt tên là người
ta bắt đầu sống thành phần dứt bỏ,
bỏ những ǵ cũ kỹ để mặc lấy
điều ǵ mới mẻ, theo gương của người
mà đứa trẻ mang tên. Khi các cha thừa sai đem tên
thánh đặt trước tên người dự ṭng
rửa tội, đó cũng là cách thức hội
nhập rất là Việt
Học hành: Có lễ khai tâm, kính cáo tổ tiên, lễ thầy.
Hôn Nhân: Kinh nghiệm về
cuộc sống mới: “ḿnh với ta tuy hai mà một,
ta với ḿnh tuy một mà hai”. Kinh nghiệm này
nhiều khi đổ vỡ: “chồng em nó chẳng ra ǵ..”;
hoặc “cơm chẳng ngon, canh chẳng ngọt”,
tệ hơn nữa “chồng ăn chả, vợ ăn
nem”.
Sự Chết: Kinh nghiệm Kenosis trong trạng thái cuối cùng của cá nhân nhưng không truyền lại kinh nghiệm cho ai đuợc.
Ṿng đời người có
nhiều kinh nghiệm Kenosis nhưng lại rất ít
cụ thể để sống tu thân.
Tu thân chủ yếu dựa vào sách thánh hiền, những lời dạy của bậc tiền nhân, những giá trị của cộng đồng để soi xét. Thực tế, việc tự đào luyện bản thân khó hơn nhiều, bởi luôn gặp những nghịch lư của đời sống chi phối, phần khác những giá trị của cộng đồng cũng nhiều giới hạn, sách xưa thánh hiền th́ không am tường hoặc không đủ hết mọi chiều kích gặp trong cuộc sống hiện tại. Việc tu thân v́ vậy mà trở nên khó. Việc nhắm mắt đưa chân, hoặc buông hoặc cầm chừng là chủ yếu. Không luyện nhân th́ không thành thân, không thành thân th́ không đạt phúc, cho nên ṿng đời vẫn cứ lẩn quẩn giữa ṿng sinh tử, vẫn u mê giữa những lựa chọn, vẫn đau khổ giữa ṿng sinh, tử, lăo, bệnh.
Vẫn như người ta thường
nói: Bạn muốn thay đổi cả thế giới,
hăy thay đổi chính ḿnh trước đă. Nguyên
tắc này nói dễ mà làm không dễ, nếu không có
một phương pháp t́m hiểu và nhận định
về chính ḿnh. Sau đây
là phương pháp trút bỏ của Ignatio.
[1] Gltc 2184.
[2]
Triết học Zen, Đ. Đ Thiên Ân Đ̣an Văn An,
Đông phương xuất bản 1963, trang 12.
[3]
Bài này trích nguyên văn bài giảng của Thượng
Tọa Thích Thanh Từ để minh họa chính xác
một quan niệm trút bỏ của Phật Giáo.
Nguồn từ Thư Viện Hoa Sen.
[4] Dt 5, 8 – 10.
[5] Pl 2, 8.
[6] Mt 11, 25 -26.
[7] Ga 4, 34.
[8] Đại Việt Sử Kư toàn thư, bàn kỉ, quyển 5, tờ 4b.