Có thể nói là từ khi con người bắt đầu chết. Người chết th́ không làm được ǵ nữa, nhưng là những người đang sống đứng ra để lo cho những người chết. Xét ở một tương quan giữa người sống và người chết, tự nó đă là một nền văn hoá. Văn hoá ấy ở tŕnh độ cao thấp khác nhau là tuỳ thuộc vào việc chôn người chết. Sự tuỳ thuộc ấy cũng định h́nh những nền văn hoá tâm linh khác nhau. Có thể nói có bao nhiêu tộc người th́ có bấy nhiêu kiểu cách, nghi lễ, ma chay, những h́nh thức này cho thấy những quan niệm sống khác nhau.
Truyền thống tâm linh Đông Phương cho thấy việc giải thích t́m hiểu vấn đề con người phải chết h́nh thành những nền văn hoá, cổ đại cũng như hôm nay. Con ngừơi không thể chấp nhận một cái chết vô nghiă ập đến, một cuộc sống triền miên đau khổ và sự dữ lộng hành mang theo sự chết của nó. V́ con người không thể chấp nhận sự hỗn loạn và vô nghĩa nên đă đi t́m những thời gian có gía trị đặc biệt. Trong các tôn giáo truyền thống là những lễ hội đ́nh đám, đó là những thời kỳ phục hồi sự sống bị hao ṃn theo năm tháng. Không có một xă hội nào thiếu những lễ hội như vậy, những lễ hội theo định kỳ làm cho xă hội bớt đi những căng thẳng hoặc bớt đi những nhàm chán của đời sống. Đó là những h́nh thức tái sinh cần thiết để làm tươi trẻ những ǵ đă cũ kỹ, mang thêm sinh lực cho những ngày sống mới. Phần lớn các lễ hội của xă hội đều khởi đi từ một sự kiện hoặc tưởng nhớ vị anh hùng nào đă khuất trong quá khứ. Truy đến ngọn nguồn của những lễ hội, người ta khám phá ra, những lễ hội ấy mang dáng dấp việc đưa tiễn, tưởng nhớ người đă khuất. Sự sống cần được khôi phục bởi sự chết dần của nó luôn kè kè bên cạnh. Các cộng đồng tôn giáo th́ thấy rằng cần có một động lực đẩy thêm sức mạnh, năng lực cho sự sống. Như ngọn lửa đang khô dầu, ngọn nến đang hết sáp, năng lực của cuộc sống dần dần tiêu hao, nên vẫn luôn măi con người đi t́m một thời thiêng để phục hồi cho giá trị ấy.
Các nghi lễ hội hè theo Theodore M. Ludwig là định hướng cho cuộc sống, những trung tâm dệt nên ư nghĩa cuộc đời.
Đông Phương đề cao việc “Đổ rỗng”, đó là thời kỳ Kenosis, thời kỳ đổ rỗng tâm linh để hồi sinh, trút bỏ lối đường cũ để sống đời sống mới. Trong thực hành kenosis có nhiều h́nh thức, một trong những nghi thức phổ biến nhất là tẩy rửa, thanh lọc các uế tạp của đời sống cá nhân cũng như tập thể, thú tội và sám hối, tách ly với cuộc đời đang sống để tịnh tâm. Tại một số cách thức của những dân tộc Á Châu hay Châu Phi, để bước qua một tuổi thiếu niên, một người phải đi vào rừng sâu để lột xác. Tại Thái Lan, những thiếu niên bước vào tuổi thanh niên phải trải qua ba năm ở trong một ngôi chùa nào đó. Đó là thời kỳ Kenosis, thời kỳ đổ rỗng, dứt bỏ hiện tại, cuộc sống thường ngày, đang trong thời kỳ ấy người ta gọi là thời kỳ limen (liminal state), sau đó khi bước ra khỏi rừng sâu trở về với cuộc sống người thiếu niên đă được chứng nhận là trưởng thành, đó là thời kỳ Plerosis. Trong rừng sâu người thiếu niên phải giũ bỏ hết những ǵ đang có, để một ḿnh đối diện với chính ḿnh, một ḿnh đối diện với thiên nhiên và một ḿnh đối thoại với Đấng linh thiêng. Đó cũng là những thời kỳ sám hối và canh tân Mùa Vọng và Mùa chay của người Kitô giáo trước lễ hội Giáng Sinh và Phục Sinh.
Kenosis được đề cao rất nhiều trong cuộc sống. Từ khi sinh ra đứa bé đă được tắm để sinh ra trong trong một môi trừơng mới, cho đến khi hôn nhân lại một lần nữa chết đi cho cuộc sống độc thân để bước vào đời sống đôi lứa, và cho đến khi ra khỏi cuộc sống. Kinh nghiệm sau cùng nhất, cao điểm nhất của t́nh trạng kenosis của mỗi cá nhân là sự chết, ở cao điểm này, cái kinh nghiệm cá nhân của người này không thể truyền đạt cho người kia, mỗi người chỉ kinh nghiệm ở những lần “đổ rỗng” trong khi đang sống.
7. Kinh nghiệm trút bỏ của Thiền.
Kinh nghiệm này chỉ có thể thực hiện được ở một số người ưu tú. Muốn đi vào con đường này điều đầu tiên là đ̣i hỏi người đó từ bỏ thế giới trần tục và đi vào con đường khổ đế. Con đường trần tục là con đường người ta bị chiphối nhiều nhất, bao gồm: Vợ con, gia đ́nh, danh lợi, đam mê, để trở thành con người tự do thực sự trước mọi nhu cầu thực tại, dồn mọi tâm trí vào con đường sở đắc tri thức đạt được giải thoát. Con đường sở đắc tri thức dẫn đến giải thoát này bắt đầu bằng việc trầm tư đạt đến độ sâu của chân ngă. Bằng nhiều thuật quán tưởng khác nhau giúp rời bỏ thực tại để quy về tâm. nhiều thuật quán tưởng liên hệ tới phương pháp khổ hạnh yoga. Con đường này bao gồm tám bước, năm bước đầu tập chế ngự thể xác, ba bước sau dùng định tâm hướng vào một đối tượng tư duy. Năm bước đầu bao gồm: Kiểm sóat hành vi - thực hiện kỷ luật tâm linh – giám sát các giác quan ngoại giới là bước ba bốn năm. Tư thế của một tập sinh đi vào thật yoga là ngồi thiền, tập trung vào việc điều khiển hơi thở cho đến khi quen, không cần kiểm soát nữa, các giác quansẽ chỉ nh́n về một đối tượng để dứt bỏ thực tại đi vào chiều sâu chân ngă. Ba bước sau bao gồm: tập trung tư tưởng - thực hành quán tưởng – ư thức ṭan măn.
Yoga được ứng dụng trong Phật Giáo h́nh thành một nhánh lớn là Thiền tông. Tại Nhật Bản, Thiền được gọi bằng một danh từ là Zen: “Zen phát sinh từ Ấn Độ, nguyên ngữ là Jhàna, dịch nghĩa là Tư Duy tu, hay Tịnh lự. Văn hóa Ấn Độ là văn hóa thuần lư, triết học. Nền văn hóa ấy đă tạo ra cho người Ấn Độ một khuynh hướng suy lư tư duy, v́ thế Zen có trước Phật Giáo. Đức Phật Thích Ca là người đă cải biến, thuần hóa Zen của Ấn Độ, tạo nên một thứ Zen tiến bộ, ḥa hợp giữa thuyền định và trí huệ.”[2]
Zen không chỉ thuần túy ở mức độ lư thuyết, đă chuyển thành h́nh thức lễ giáo tại Trung Hoa, làm cho thân tâm ḥa hợp với nhau trong cảnh giới thuyền quán. Dần dà Zen trở thành thịnh hành từ đời Đường, đời Tống trở đi và xem như là ṭan bộ của Phật Giáo.
Tại Nhật Bản, lối thích nghi thuyền quán không đi vào lễ giáo mà đi vào nghệ thuật, tâm t́nh, phát triển rất nhanh và trở thành một đề tài lớn trong nghệ thuật Zen.
Zen là biểu hiện của sự thức tỉnh mà trong đó ẩn chứa rất nhiều mâu thuẫn: Zen vượt trên ngôn từ mà lại phát sinh ra rất nhiều thư pháp; chú trọng thực tại hơn biểu tượng lại là nguồn cảm hứng cho nhiều nghệ thuật; mang những nét đơn giản mà lại đầy tính trầm tư; không tiếng nói mà lại cần nhiều lắng nghe; không thấy mà lại mở ra nhiều hướng nh́n… Zen trở thành một nghệ thuật, chính ở đó người ta t́m thấy lối giải thóat trút bỏ của các bậc thiền sư lâu năm thực hành tu thuyền phác họa lên, bằng những nét trong sáng, đơn giản mà thanh thóat, bộc trực mà thẳng ngay.
Nghệ thuật Zen là một nghệ thuật
trút bỏ, vậy mà tiếc thay một số nhà viết
thư pháp hiện nay tại Việt
Cũng như yoga, Zen không dành cho hết mọi người, Zen đ̣i hỏi một kỷ luật nghiêm nhặt, so sánh với Samurai, luật của Zen đ̣i hỏi khắt khe hơn nữa. Thời gian tu luyện của một người theo học Zen khắt khe không có giờ để họat động riêng tư hay yên giấc để diệt được cái tôi. Chính nhờ tu luyện khắt khe đó mới h́nh thành được những ǵ tinh túy nhất của nghệ thuật Zen. Nghệ thuật Zen là chắt lọc ở mức tối thiểu để chỉ c̣n lại những ǵ đơn giản nhất mà thâm sâu nhất, đầy ư nghĩa nhất.
Nghệ thuật Zen phát triển qua những bậc thầy trong Thuyền Định, nghệ thuật được thể hiện qua những bức họa, những nét thư pháp, cách trang trí vườn cảnh hay pḥng tiếp khách, đơn giản mà sâu sắc. Tất cả những nét đó đều dẫn người ta tới nhập định, dứt bỏ và giác ngộ.
Từ Zen, có thể thấy phát sinh nhiều h́nh thức khác, như trà đạo: Người Nhật goi nghi thức trà đạo là Cha no yu, nó là tích lũy của các bậc thiền sư qua nhiều thế kỷ, trà đạo vừa mang tính kỷ luật vừa hàm chứa tính thiên nhiên và đầy sự thanh lịch. Nghệ thuật trà đạo, dùng những b́nh pha chế và các tách để uống rất đơn giản, cũng như Zen, đơn giản như cây bút lông, nghiên mực khi vẽ thư pháp. Cái quan trọng là cái hồn của trầm tư, nhập định, và giác ngộ. Cái hồn này được chú trọng ngay từ khi nhặt củi từ rừng về để nấu nước, khi chuẩn bị lửa để nấu nước trong trà đạo, vị thiền sư sẽ làm rất chậm răi, trang trọng của một nghi thức thắp lửa, để khách dùng trà có thể đọc được ư nghĩa của lửa đốt lên làm dịu tinh thần, giống như mài mực trong khi chuẩn bị viết thư pháp. Từng chút một mỗi hành vi trong trà đạo, khi cầm trà pha hay khi cầm tách uống đều có thể thấy sự tinh tế của nó dẫn vào nhập định. Nhiều vị khách được mời đến dự trà đạo đều thấy ḿnh được trân trọng hết sức quư mến, từ đó mở ra những tâm hồn có thể gần với nhau một cách dễ dàng. Tukuan (1537 – 1645) là một thiền sư Nhật Bản nổi tiếng, trong một lá thư gửi cho bậc thầy trong trà đạo là Sen Sotan rằng: “Giữ được tĩnh tại trong cuộc đời đầy náo động này chẳng khác ǵ giữa đám lửa cháy mà giữ được sự mát mẻ”.
Song song với nghệ thuật trà đạo c̣n thấy nghệ thuật của những vườn khô. Vườn này được tạo bởi cát và đá. Nổi tiếng nhất là khu vườn khôp của Ryoan – Ji là sự trơ trọi tột độ, chẳng thấy ǵ khác ngoài sỏi, đá và cát, sắp đặt một cách tinh ư, mỗi người nh́n xem đều mang một ư nghĩ khác nhau và ai cũng cảm thấy thích thú. Sự thành công của vườn khô này giúp người ta khỏi những vướng bận trần tục, dứt bỏ mọi sự để nhập định vào cơi thiêng, đắm ch́m trong trầm tư để đạt được giác ngộ.
Thuyền định hay c̣n gọi là Zen thực sự là một kinh nghiệm trút bỏ từ đất lành Phương Đông, đó là chiều sâu của nhập định, đó là chiều sâu của trầm tư và t́m ra ư nghĩa cuộc đời cách sâu xa nhất khi không c̣n giữ lại ǵ cho riêng ḿnh. Giải thóat có nghĩa là tự do.