Công viên - bờ sông, lối thoát hiện tại:

Thông thường mỗi thành phố đều có ít nhiều công viên, những nhà môi trường học th́ gọi đó là lá phổi xanh cho thành phố.

Trong văn hoá những công viên có giá trị hơn thế rất nhiều:

Làm tăng thêm sức sống cho những người đi làm, những trẻ đi học buổi sớm. Đó là một không gian mở cần thiết, cho con người sau một giấc ngủ thu hẹp trong một ngôi nhà. Không gian mở ấy là giải thoát khỏi những tù túng và bắt đầu một ngày mới tốt đẹp.

Công viên và những ḍng sông uốn lượn tạo nên cảm giác dễ chịu, sau những giờ làm việc hết sức, người ta vừa dứt ra khỏi môi trường làm việc là gặp ngay những giờ thoải mái, sảng khoái trong những môi trường xanh, sạch sẽ và bóng mát. Môi trường thiên nhiên làm dịu lại những căng thẳng của cuộc sống. Đó là một chiều kích nền tảng cho nền văn hoá công nghiệp đương đại.

Người Á Đông quan trọng tính hài hoà giữa thiên nhiên và kiến trúc xây dựng. Không thể là những bông hoa cây kiểng giả, cũng không dùng một tỷ lệ quá nhỏ giữa cây xanh với số công tŕnh kiến trúc. Thiên nhiên hài hoà với kiến trúc làm nên một môi trường thư giăn, trút bỏ mệt nhọc thân xác và t́m lại sức khỏe tâm hồn. Nhà thờ, một số nơi người ta cố gắng cho phần kiến trúc thể hiện tính cách Á Đông mà ít khi đặt phần kiến trúc ấy trong một tổng thể hài hoà với thiên nhiên. Thiên nhiên đóng vai tṛ cần thiết để trả về cho tâm hồn “những giờ thiêng” đó là một môi trường dứt bỏ khỏi những bận rộn cuộc sống hằng ngày, tách ḿnh ra khỏi ḍng sống ồn ào, gột tẩy khỏi những uế tạp của tư tưởng. Nơi thiêng thánh, thờ tự, thiếu môi trường xanh sẽ không bao giờ đạt hiệu quả cao cho sự t́m về chốn thanh thản của tâm hồn. Từ bỏ, dứt bỏ sẽ là lời nói suông khi nh́n vào chỉ thấy những kiến trúc, cần thiết nên có một môi trường thiên nhiên, ở đó con người đang dứt bỏ những tỵ hiềm xấu xa, dứt bỏ cơi trầm mặc kiếp nhân sinh mà t́m về chốn thiêng, làm tươi trẻ tâm hồn.

Nếu chỉ dừng lại ở kiến trúc, môi trường thiên nhiên bị phá vỡ, người ta chỉ cảm thấy ngột ngạt, cuộc sống là cuộc chạy đua không ngừng nghỉ và hậu quả là xuất hiện những thác loạn bùng nổ.

Hội Nhập văn hoá không chỉ dừng lại ở kiến trúc mà xa hơn là ở những bóng mát cho cuộc đời. Thiếu môi trường hít thở bầu khí thánh thiêng, người ta cũng sẽ sống thiếu đời sống thiêng thánh. Sự tục hoá bắt nguồn từ sự thiếu hít thở đó.

Thông thường tại các gia đ́nh các hộ chỉ trồng được vài ba gốc cây xanh, một vài gốc không làm nên một môi trường, người ta cần có một môi trường xanh, xă hội cho họ với mục đích tạo sự an b́nh, giáo xứ cho họ để tạo bầu khí thiêng thánh. Hăy dừng lại ở những kiến trúc chỉ v́ kiến trúc và hăy nghĩ về những môi trường xanh. Thiếu môi trường xanh, sẽ là những gán ghép xem ra thô kệch với ư nghĩa của từng phần kiến trúc. Đưa một triết lư hài hoà thiên - địa – nhân vào trong những kiến trúc xây dựng gọi là Á Đông là một sai lầm lớn của những chủ đầu tư. Cuối cùng kết quả công tŕnh xây dựng đó là bằng chứng tố cáo về việc hội nhập văn hoá thiếu chiều sâu.

Sạch sẽ trong môi trường sống cũng tạo nên sự sạch sẽ của tâm hồn. Rác rưởi là hậu quả sự nghèo đói, tội lỗi là hậu quả sự trống vắng của cơi thiêng. Ngày nay, ư thức về vệ sinh môi trường không cao là minh chứng cho sự kém phát triển đó. Con người không chỉ sống nhờ cơm bánh, cần có một môi trường khác hơn những ǵ đang thấy. Đó là một tổng thể của định luật sáng tạo, khi Thiên Chúa sáng tạo mọi vật trong thiên nhiên rồi mới đặt con người vào. Con người làm chủ thiên nhiên và tạo vật, tính cách làm chủ và cai quản đó bị bào ṃn, khi con người chỉ nhắm tới giá trị kinh tế của tạo vật và thiên nhiên. Xét ở điểm này, sở dĩ ư thức của người dân, không tôn trọng môi sinh trong sạch là v́ một phần nào của ư thức hệ trước đây, đă biến những công viên thành những luống khoai, những luống rau…Biến những ḍng kênh lượn lờ thành con kênh mang chất thải đổ ra sông.

Trong Hội nghị tổng kết “Hội Thi Môi Trường Xanh Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2002” có một ư nghĩa hồi sinh. Nhận định về đặc điểm t́nh h́nh môi trường để phác thảo một kế hoặch là đúng hướng: “Thành Phố Hồ Chí Minh có diện tích tự nhiên 2.093 km2, dân số 5, 3 triệu người (năm 2002). Mật độ dân cư b́nh quân toàn thành phố 2523 người/ km2, khá cao so với nhiều thành phố khác trên thế giới. Hơn nữa, lại phân bố không đều, tập trung quá đông ở Nội Thành – hơn 4 triệu người trên diện tích 140 km2, tức chiếm tới gần 80% dân số, nhưng chỉ có 6,7% diện tích tự nhiên. Mặt khác, công nghiệp Thành Phố ngày càng phát triển, thu hút nhiều lao động từ các tỉnh về cũng đă làm cho mật độ dân cư tăng cao hơn và môi trường thành phố ngày càng xuống cấp nghiêm trọng. Phương tiện giao thông phát triển nhanh trong khi đó, đường xá phát triển không tương xứng; các nhà máy, xí nghiệp, khu chế xuất ngày càng thải nhiều chất độc hại vào môi trường, làm cho bầu không khí, đất và nước bị ô nhiễm nặng nề. diện tích xanh nội thành b́nh quân đầu người từ 0,7m2 vào những năm cuối thập kỷ 80, đă phấn đấu tăng hơn 4m2 vào năm 2002. nhưng các chỉ số trên so với nhu cầu sinh thái đô thị vẫn c̣n ở mức tối thiểu. và, nếu so sánh với các thành phố văn minh trên thế giới có từ 30 – 50 m2 diện tích xanh/người, th́ chỉ tiêu xanh nêu trên ở thành phố Hồ Chí Minh vẫn c̣n khá thấp”.

Kênh Nhiêu Lộc đang được tái tạo là dấu hiệu đáng mừng cho một thành phố phát triển. Thiếu những ḍng sông uốn khúc, là thiếu cảnh quan, thiếu một môi trưởng thoáng mát cho một thành phố nóng nực v́ khí hậu và v́  chất thải công nghiệp. Bài toán xem ra đang ở ngưỡng cửa khi làm trong sạch những khối nước thải trước khi ra ḍng kênh. Thành phố đang có dấu hiệu của hồi sinh.

Giáo xứ, một môi trường thiên nhiên cho cộng đồng v́ thế cũng cần những diện tích cho phần ao hồ, người ta có thể t́m vào môi trường ấy để tập dưỡng sinh, t́m phút thanh thản trước những trầm mặc của cuộc sống. Không thể thu gọn ao hồ bằng những chiếc chậu cá cỏn con, điều đó gia đ́nh người ta cũng có thể làm được, điều họ cần hơn là một ao hồ thật sự, ở đó có những đàn cá tung tăng, thanh b́nh bơi lội. Có môi trường cho những đàn chim ríu rít gọi sức sống đang tuôn chảy theo từng nhịp vỗ.

Môi trường thiên nhiên là một môi trường hội nhập văn hoá thật sự, cần hơn một kiến trúc theo khối, mang sắc thái của người Á Đông, cần hơn cho những ngôi nhà chỉ bêtông và cốt sắt. Nh́n xa cho một công tŕnh xây dựng theo lối kiến trúc Á Đông hài hoà trong một tương lai dài, có lẽ các mô h́nh mới hoặc chuẩn bị xây dựng cũng nên lưu ư về mật độ xanh này. Nhà thờ nơi đổ rỗng và là nơi t́m về chốn thiêng, như vậy cần có chăng một môi trường thiên nhiên giúp ra khỏi những lo âu thường ngày để gặp gỡ Thiên Chúa trong sâu thẳm của ḷng người.