H́nh thành một văn hoá từ việc chôn cất
người chết, đôi khi các nhà nghiên cứu thường
tự hỏi: “Thờ kính tổ tiên có phải chăng là một
tôn giáo?”. Toan Ánh cho rằng: “thờ kính tổ tiên không phải
là một tôn giáo, mà là ḷng thành kính và biết ơn của
con cháu với những người đă khuất”. Giáo sư
Nguyễn đổng Chi th́ phân vân “nó gần như một
thứ tôn giáo” c̣n đối với Giáo sư Đặng
Nghiêm Vạn th́ khẳng định: “Đây là một tôn giáo
chính thống của người Việt”. Ở dưới
một góc cạnh nào nh́n nhận đi chăng nữa th́ cũng
hiểu rằng đó là đạo lư chung của tâm hồn
Việt “Uống nước nhớ nguồn”.
Đạo lư: “Uống nước nhớ nguồn” làm nên những cốt lơi của lễ hội truyền thống. Ở mỗi tầm mức đều có những lễ hội riêng biệt: Quốc gia th́ có lễ quốc tổ:
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba.”
Tổ của dân Việt không chỉ là cha mà đặc trưng là mẹ. Trong Đạo Mẫu :
“Tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ”.
Ở làng th́ có tổ làng:
“Trống làng nào, làng ấy đánh, thánh làng nào, làng ấy thờ”.
Ở mỗi nghề th́ có tổ nghề làm nên truyền thống bách nghệ tổ sư.
“Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”
Ở mỗi nhà th́ có tổ tiên, những người trong gia đ́nh đă khuất.
“Tu đâu cho bằng tu nhà.
Thờ cha kính mẹ mới là đi tu”
Uống nước nhớ nguồn trở thành
đạo lư, làm nên kỷ cương đạo hiếu là
chiều dọc, xây dựng hiếu đễ là chiều
ngang.
Thờ kính tổ tiên làm nên những tổ chức cộng đồng trong xă hội truyền thống. Một người sống trong xă hội xét theo chiều dọc và chiều ngang, nh́n nhận rằng “không ai là một ốc đảo”, người này đều có liên hệ với người kia, gần th́ huyết thống xa th́ làng nước. Huyết thống ở xa th́ “bán họ hàng xa, mua láng giềng gần”. Mối liên hệ xa đi chăng nữa lại vẫn chung một tổ, bởi vậy xă hội ngày xưa, dựa vào yếu tố đó để xây dựng tổ chức Làng - Nước. Tổ chức làng - nước nhằm bảo vệ cộng đồng nhân sinh trước ngoại xâm và bảo đảm nghành nghề sinh sống.
Văn hoá từ đường cũng theo đạo hiếu mà phát triển, từ đường có thể là một gian trong gia đ́nh, để việc tế lễ tổ tiên hằng ngày được tiến hành, từ đường có thể là một ngôi nhà tách biệt của tổ tiên để lại, hoặc do mua, dành cho ḍng họ tế lễ dịp đầu xuân về, con cháu quy tụ về đây chúc tết ông bà, và các cháu được mừng thêm tuổi mới do tổ tiên ban phúc.
Thông thường từ đường là nhà riêng
của người quá cố, ngôi nhà vẫn thuộc về
tổ tiên, khi sống tổ tiên ở, khi mất trở thành
nơi thờ tổ tiên, hiện diện qua biểu trưng
của tấm bài vị. Dĩ nhiên từ đường
không để trống, không ai ở, con cháu hoặc những
người thừa kế ở trong ngôi nhà tổ tiên để
lại. Nơi đặt bài vị của tổ tiên hoặc
là gian giữa hoặc là gian bên trái cửa khi vào nhà, được
phân cách với các gian khác bằng tấm màn che, được
mở ra trong những ngày giỗ kỵ, và che lại trong lúc
thường nhật.
Từ đường là nơi họp mặt đại gia đ́nh, mỗi khi giỗ tổ hoặc tŕnh báo tổ tiên khi đám cưới hỏi những con cháu trong gia đ́nh. Những chuyện vui buồn dường như đều có tổ tiên dự phần vào như khi đang c̣n sống. Đối với người Việt tuy âm dương cách trở nhưng cũng không hề xa cách. Bàn thờ gia tiên tại từ đường có bài vị của các cụ tổ được lám bằng gỗ táo (với ư nghĩa cây táo sống ngh́n năm) ghi rơ tên tuổi của các vị tổ. Bài vị này không được quyền thay đổi cho đến khi đời thứ năm khuất bóng, đời cao nhất sẽ được đem chôn bài vị và các cấp c̣n lại tăng lên một bậc. Người Thái ở cao nguyên Bắc Việt chỉ thờ một đời gần nhất, người Nùng th́ thờ đến ba đời, sang đời thứ tư th́ được dời ra cửa ngơ hoặc trước nhà như vị thần gác cửa bảo vệ sự an toàn cho con cháu.
Với người Việt từ đường có thể là nơi đặt nhiều bài vị khác nhau, từ đời ông đến đời cha đời cháu… có khi đến năm đời. khi nhiều đời trải qua th́ chính nơi từ đường này đă thấy phát sinh một nhánh mới, nhà thờ của nhánh họ không gọi là từ đường nữa mà thăng cấp gọi là nhà thờ họ.
Khác với Trung Hoa, người Việt không có thói quen chôn cất các bài vị. Trong thực tế, người ta chỉ giữ những bài vị của tổ tiên c̣n thấy ảnh hưởng nhiều trên con cháu, những người đang sống thực hành việc thờ kính tổ tiên.
Thường th́ không nhiều họ có nhà thờ
họ bởi chính những người con cháu phần lớn
cũng nghèo khổ, đến nỗi cũng chưa có được
một ngôi nhà riêng cho ḿnh nữa.
Bàn thờ gia tiên được làm thành hai lớp,
ngăn cách bởi tấm y môn che phủ . Lớp trong đặt
long khám của thần chủ (hoặc ngai, hoặc ỷ tượng
trưng cho ngôi vị của tổ tiên), một vật thờ
gọi là tam sơn để đặt hộp trầu, chén
rượu, ly nước, đĩa hoa quả. Lớp ngoài
là hương án, trên đặt b́nh hương, đèn, ống
hương, mâm bồng… Ngày thường tấm y môn vén lên,
nhưng vào ngày lễ, sau khi khấn vái, y môn được
thả xuống.
Trong tâm trí lúc nào tổ tiên dường như cũng
đang sống dưới một mái nhà, ngay bên cạnh nên
hầu như từ đường nào cũng có ngôi mộ
tổ ở giữa khu vườn dưới những rặng
cây cổ thụ hoặc vườn cây trái nếu đấy
là nơi miệt vườn. Tổ tiên không xa cách nên từ
đường lúc nào cũng ấm áp hương khói kính
nhớ. Có nơi người xây mộ tổ theo tính cách bửu
tháp, thường là nơi chùa chiền, nơi bửu tháp ấy
là người lập nên chùa được mai táng. Thật
là thiếu khi bửu tháp không có gốc cây cổ thụ, thường
th́ là gốc sứ trắng, một loại cây toả hương
thơm hoa suốt bốn mùa, vững chăi đứng đó
che bóng cho đàn con cháu. Khi nói về từ đường,
những người con dường như nghe tiếng tổ
tiên đang ở đó cầu chúc cho con cháu những năm
tháng dài an khang hạnh phúc.
Khác với các nước Á Châu như Nhật bản đặt bàn thờ Thần Đạo (Shinto) ở nơi trang trọng nhất trong nhà, c̣n bàn thờ gia tiên ở gian phụ. Ở Hàn quốc, người ta chỉ lập bàn thờ và dán bài vị khi có việc cúng giỗ. Ở Việt Nam, bàn thờ gia tiên ở ngay gian giữa, ngay khi khách vào nhà đă thấy sự trang trọng của bàn thờ gia tiên, nếu là một người ư thức về tính trang trọng của dân tộc, trước khi vào câu chuyện với người trong nhà, người khách cần thắp ba nén hương để thờ kính tổ tiên của gia đ́nh ḿnh đến. Tại một số gia đ́nh nếu cha mẹ mất sớm cả, người anh lớn trong nhà dù việc lớn hay việc ǵ nhỏ, hoặc cả việc lấy roi đánh các em ḿnh để dạy chúng th́ cũng thắp vài nén hương xin phép được thay quyền cha mẹ quyết định. Lễ giáo của một gia đ́nh lấy khuôn phép từ bàn thờ gia tiên ấy mà sống. Ngày xưa không có khoa dạy luân lư, dạy phép đạo làm con, nhưng ở gia đ́nh con trẻ học được rất nhiều lễ giáo nơi bàn thờ gia tiên, trong gia đ́nh.
Bàn thờ gia tiên không nhất thiết trưng bày theo một quy tắc nhất định, tuỳ theo gia cảnh của mỗi nhà, thường th́ có bài vị thay cho những tấm ảnh như bây giờ hay từ khi nghành ảnh ra đời và phổ biến. Bài vị hay linh vị, đôi khi bị hiểu lầm là một bùa chú, không phải vậy, bài vị là tấm thẻ ghi danh tánh của người đă khuất và ngày sinh, ngày tịch để nhắc nhở ngày giỗ kỵ. Bài vị biểu hiện sự hiện diện của người đă khuất trong gia đ́nh, sự hiện diện linh thiêng của tổ tiên. Bên cạnh bài vị có bát hương, đĩa đèn, b́nh hoa, chén rượu, hộp trầu, mâm quả… chất liệu của các dụng cụ trên bàn thờ thường bằng gỗ hay bằng sành, sứ. Những gia đ́nh giàu có hơn th́ dùng bằng đồng, bộ tam sự (gồm đỉnh đồng làm b́nh cắm hương và hai con hạc đồng), trong bộ thờ có hạc là khi có ảnh hưởng của Phật giáo vào trong hiếu đạo (người Phật giáo tin rằng con hạc này sẽ chở người đă khuất về nhanh cơi Niết Bàn), bộ ngũ sự th́ có thêm hai ống hương, bộ thất sự có thêm đôi đèn. Bàn thờ gia tiên của nghành trưởng th́ trang trọng hơn nghành thứ, bàn thờ gia tiên của chị trưởng th́ bài biện đẹp hơn của chị thứ.
Trách nhiệm thờ kính tổ tiên là bốn đời bao gồm: Cao, Tằng, Tổ, khảo (bao gồm cả các cụ bà), bên cạnh bàn thờ thường có có bức đại tự hay hoành phi, nội dung các bức này thường là:
“ Công đức bách niên duy,
Tử tôn vạn đại kiến”
Lễ thức tang ma được coi là quan trọng nhất là để đưa ông bà hoặc cha mẹ vừa mất về gặp mặt tổ tiên và gia nhập vào các thứ bậc tổ tiên. Người vừa khuất được đặt bàn thờ riêng, cho đến khi giỗ đoạn tang. Sách “thọ mai gia lễ” ghi chép rất chi tiết những quy định về lễ tang, bao gồm các lễ như: lễ gia tân y, chúc khoáng, khiết xỉ, lễ phục hồn thiết hồn bạch, phạn hàm, tiểu liệm, đại liệm, nhập quan, thành phục, thiên cửu, yết tổ… sau lễ chôn cất có các lễ: Phản khốc, tế ngu, mở cửa mả, tốt khốc. quy định về tang phục và tang chế cũng được quy định rơ ràng, tuỳ theo người thọ tang liên quan với người quá cố. Sau càc lễ tang ma là các lễ giỗ cũng rất quan trọng ( 49 ngày, 100 ngày, 1 năm, 3 năm và hằng năm).
Lễ thức tang ma là phần thực hành quan
trọng trong đời sống, bởi v́ trong đó mang
nhiều ḷng ghi ơn, dần dà trở thành một nghi thức
quan trọng của việc báo hiếu. Linh mục Cad́ere
trong khi nghiên cứ văn hóa Việt cũng thấy rằng:
“Bổn phận lớn lao của mỗi thành viên gia đ́nh
và đặc biệt của con cái đó là chữ Hiếu,
hiếu thảo với cha mẹ hay hiếu thảo với
gia đ́nh; t́nh cảm mănh liệt ấy nối kết con
cái với cha mẹ và mọi thành viên trong gia đ́nh lại
với nhau. Trọng tội của người con có thể
mang là tội bất hiếu”. Khi coi bất hiếu là trọng
tội, người dân Việt ai cũng muốn bày tỏ
ḷng hiếu thảo này cách mănh liệt nhất và sinh ra những
h́nh thức rườm ra tốn kém. Cũng tiếc thay, một
gia đ́nh ở làng quê, việc hơn thua nhau cũng ở
chỗ: “ai hơn ai về ḷng hiếu kính” mà sinh ra những
điều xấu trong nghi thức tang ma, để lắm
lúc đi đến việc quá trớn, như người
ta thường chê bai: Lúc sống th́ không cho ăn, lúc chết
th́ mới làm văn tế ruồi”. Nói về cỗ tiệc
th́ các vị thừa sai nhận xét: Cúng tế bao giờ cũng
đi chung với tiệc tùng và cho rằng người Việt
thích ăn uống rượu chè. Linh mục Cadière lập
luận lại khác: “Hẳn rằng người Việt không
phải là không thích ăn uống chè chén. một trong những
trở lực mà các nhà thừa sai thường gặp là
chuyện tiệc tùng sau những lễ nghi. Việc thờ
kính tổ tiên, thần thánh bị lôi kéo vào bản chất
tham ăn của bất cứ ai, đặc biệt người
Việt. Cúng Hồn, cúng thần th́ có nhiều tiệc tùng,
riêng cúng Trời th́ không”[9].
Linh mục Cadière nói suy cho cùng đây cũng là cách thức
tiết kiệm khi dâng lễ vật cho tổ tiên hay thần
linh hưởng dùng th́ đến lượt con cháu bằng
cách ăn để thiêu hủy đi những phần thức
ăn. Như trên đă nói việc cỗ tiệc chỉ tệ
hại ở chỗ khi nó trở thành việc đánh giá ḷng
hiếu thảo hay là h́nh thức khoe của mà nhiều người
đă trở thành khốn đốn và nghèo hơn khi tổ
chức những ngày giỗ kỵ tưởng nhớ tổ
tiên. phải nói rằng bên cạnh thói tham ăn c̣n có thói
tham danh vọng của người Việt vốn quanh năm:
“bán lưng cho trời”.
14. Thờ kính tổ tiên ngày nay.
Một vài số liệu:
Qua khảo sát hai đô thị lớn tại Hà Nội, Sài G̣n, và ba tỉnh vùng nông thôn Hà Tây, Hoà B́nh và Cần Thơ, phiếu điều tra cho thấy một thực trạng thờ kính tổ tiên ngày nay:
100% gia đ́nh có bàn thờ tổ tiên.
96, 75 % bàn thờ gia tiên được đặt nơi trang nghiêm nhất trong nhà.
95,85% những cặp vợ chồng nhớ ngày người thân mất để giỗ và cầu nguyện.
chăm nom mồ mả: Tại các vùng nông thôn là 100%, tại Hà Nội là 85%, Sài G̣n là 89%.
H́nh thức cử hành ngày giỗ trong những năm chiến tranh th́ giản đơn, nhưng nay đang hồi phục:
61% tại Sài G̣n, mời thầy tới gia đ́nh cầu kinh tang lễ. 48 % tại Hà Nội, 4% tại Hà Tây, 3,13 tại Cần Thơ.
28,4% tại Sài G̣n gửi cốt tại Chùa, 28% tại Hà Nội, Hà tây 3%, Cần Thơ 1,56%.
Việc tu sửa những ngôi mộ tổ, quy
tụ con cháu trong những ngày giỗ của tổ tiên để
cầu nguyện: Hà Tây 91%, Hoà B́nh 88,5%, Cần Thơ 86%, Hà
Nời 27%, SàiG̣n 18,4%. Tại các thành phố xem ra việc
quy tụ trở nên khó hơn v́ con cháu bận công việc làm.
Gia phả 13,5% tại Sàig̣n, 15% tại Hà Nội, các gia đ́nh có gia phả. Tiếp tục ghi chép gia phả th́ khó khăn hơn 8% tại Hà Nội, 8,2% tại SàiG̣n.
Tại làng Triều Khúc, Huyện Thanh Tŕ, ngoại thành Hà Nội: 84,4% người tin có linh hồn, 35,5% tin có ma, 95,5% gia đ́nh quan tâm đến mồ mả, chọn giờ tốt xâu 88,8%, xem chân gà 60%, xem tướng số 22,2%, hầu đồng 2,2%.
8,9% gia đ́nh có bàn thờ mẫu, 16% có cây hương thờ thổ thần, 31,1% có bàn thờ Phật, 40,2% có bàn thờ cố tổ, 92% gia đ́nh có bàn thờ tổ tiên, 8% c̣n lại là những gia đ́nh trẻ ngành thứ. Trên 60% gia đ́nh có bàn thờ tổ tiên 4 đời, 33% gia đ́nh thờ 5 đời.
47% gia đ́nh thắp hương bàn thờ tổ tiên mỗi ngày. 53% gia đ́nh thắp hương bàn thờ tổ tiên vào dịp tết, giỗ, sóc, vọng.
Việc thờ kính tổ tiên bắt nguồn từ việc uống nước nhớ nguồn 100% đồng ư.
Việc xây cất nhà thờ họ và tôn tạo
mồ mả tổ tiên 96% cho là cần, 4% cho là không cần.
Các số liệu trên dựa vào khảo sát năm
1995, trong cuốn “thực trang văn hoá gia đ́nh Việt
Vài số liệu tại Sài G̣n, đối với
người Công giáo, Khảo sát năm 2002:
98% tại Sài G̣n, mời linh mục tới hoặc
mang tới Nhà Thờ cầu nguyện cử hành lễ an táng
cho người quá cố. Đặc biệt, theo lối sống
cầu nguyện của người công giáo cử hành trang
trọng các lễ an táng, cầu nguyện cho người
quá cố, làm cho nhiều người lương dân thích được
cử hành tang lễ theo người công giáo. Đó cũng
là điểm son của người công giáo, ngay từ buổi
đầu truyền giáo vào Việt
90,6% các gia đ́nh Công giáo nhớ ngày giỗ và
xin lễ cho tổ tiên.
88,5% gia đ́nh công giáo chăm sóc mộ phần,
một số c̣n lại do điều kiện con cháu lưu
lạc nhiều phương xa và quên mất những mộ
phần của tổ tiên.
Chọn giờ tốt xấu để cử hành lễ an táng hoặc hạ huyệt:
Gia đ́nh công giáo toàn ṭng: 1,3%.
Gia Đ́nh Công Giáo, có thành viên lương dân: 23,4%.
Gia phả của các gia đ́nh công giáo c̣n lại 57,3%, tiếp tục ghi chép 23,2%.
Truyền thống uống nước của người dân Việt trải qua nhiều thời kỳ và thay đổi nhiều về mặt kinh tế vẫn không phôi pha trong ḷng dân tộc. Đang khi có chiều hướng tốt khi phục hồi nền nếp gia phong Hiếu đạo trên một diện rộng, nhất là từ sau những ngày mọi sinh hoạt và kinh tế khó khăn đă qua. Đây là dấu hiệu tốt của nền văn hoá Việt đang khi mở cửa đón tiếp khách nước ngoài vào Việt nam du lịch. Ở nhiều nơi đang hồi phục các lễ hội truyền thống của làng. Gia trị truyền thống lâu nay bị bỏ quên đă có dịp tốt được phục hồi, những người xưa vẫn c̣n đó chưa qua đi hết là nguồn nhân lực đáng kể để gợi nhớ cho con cháu những truyền thống quá văng. Có nhiều cách thức giới trẻ ngày nay vẫn đang t́m về những nguồn nhân chứng để nghe và hiểu hơn từng sắc thái của dân tộc. Có nhiều đề tài nghiên cứu cách tốt hơn để bảo tồn và phát triển truyền thống trong văn hoá đương thời. Có nhiều nỗ lực từ nhiều phía khác nhau, từ các gia đ́nh cho đến những cộng đồng lớn như giáo xứ, giáo phận và sự quan tâm của Hàng Giám Mục Việt Nam là những đóng góp tốt đẹp trong nền văn hoá bản địa.
Đang khi có nhiều di tích không c̣n hiện hữu nữa và những người xưa cũng đang ít dần đi, sự hồi phục các giá trị văn hoá này là một cấp bách trước nhiều vấn đề mới mở ra đối với thế giới. Việt nam đón nhận nhiều nền văn hoá khác nhau, nếu không duy tŕ và phát triển văn hoá cách sâu rộng hơn th́ có thể rằng con cháu mai sau là người mất gốc.
Các vùng nông thôn ngày nay, các tổ chức xă hội kiểu xưa theo văn hoá làng xă cũng không c̣n nữa, những phương tiện sản xuất ngày càng cần ít nhân công hơn, số lao động vùng nông thôn thừa ra hàng năm, nếu tính cả nước trên 1 triệu, với những số gia tăng hằng năm 90% là vào các thành phố lớn để t́m việc làm và 90% là độ tuổi thanh niên, như vậy một vấn đề khó khăn cũng mở ra đối với những người ưu tư về văn hoá. Các vùng nông thôn cũng có nhiều vấn đề khác đang phá vỡ mô h́nh văn hoá làng xă như: mua bán vợ cho người nước ngoài, mại dâm, rượu, ma tuư… Mô h́nh kinh tế nông thôn công nghiệp làm thặng dư lao động và rơi vào t́nh trạng nhàn rỗi, từ đó nhiều vấn đề về văn hoá không c̣n giá trị.
Văn hoá có thể chịu ảnh hưởng của kinh tế về hai mặt: Mặt thứ nhất là văn hoá sẽ chịu sự biến đổi và biến mât nếu những giá trị truyền thống chỉ là để giới thiệu, phát triển cho ngành du lịch mà không có ư nghĩa trong cuộc sống. Mặt thứ hai giá trị kinh tế là một trợ giúp cho việc bảo tồn và phát triển nền văn hoá. Một thực trạng trong vấn đề hiện nay, khôi phục các giá trị văn hoá cổ xưa, thường về hướng thứ nhất th́ dễ thực hiện hơn bởi v́ dễ tập và đào luyện cho những đội đoàn trở thành chuyên nghiệp, nhưng văn hoá như vậy thôi là nền văn hoá đem ra biểu diễn chứ không là nền văn hoá chắt lọc từ cuộc sống. Hướng thứ hai khó giải quyết hơn, bởi v́ cần nhiều nỗ lực từ mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng sống những giá trị văn hoá truyền thống một cách sâu đậm, mà vẫn không lạc hậu với văn hoá chung nhân loại. Trước những áp lực về kinh tế, những giá trị truyền thống xem ra dễ chỉ c̣n h́nh thức mà thiếu nội dung, văn hoá c̣n là cái phông sân khấu cho những loại nhạc Shock mà giới trẻ ngày nay ưa thích.
Có một sự lẫn lộn thật sự về từ ngữ hoặc cố t́nh lạm dụng khi dùng từ văn hoá để gán ghép vào trong những lối sống hoặc để kết án những ấn phẩm ngoài luồng kiểm soát, trong đó có cả những sách tốt dạy về đạo lư làm người cho ra người cũng bị xuyên tạc, người ta dùng từ ngữ: văn hoá đồi truỵ, văn hoá khiêu dâm, văn hoá hưởng thụ… Văn hoá không là tích tụ của những điều xấu mà đúng hơn chịu ảnh hưởng của lối sống văn minh hưởng thụ, kỹ thuật khiêu dâm, văn minh đồi truỵ. Sự lạm dụng từ ngữ làm biến dịch nhiều cách sống, cách suy nghĩ của người Việt hôm nay, ví dụ các thương trường lạm dụng từ ngữ : “khách hàng là thượng đế”, để chiêu dụ khách hàng và cuối cùng để móc túi của thượng đế. Từ “tươi mát” không dám dùng nữa để chỉ ngay cả khi dùng sự “tươi mát” cho tâm hồn, bởi các báo chí đă dùng để chỉ những điều xấu và xem ra cách hiểu phổ biến là như thế. Có những từ ngữ nghe ra thật kêu nhưng lại hoàn toàn bị trống rỗng nội dung theo những khuôn sáo ṃn: một không, ba không, ba có, bốn diệt, năm làm… Thật là một hỗn loạn, thiếu trách nhiệm trong khi sử dụng ngôn từ.
Có quá nhiều sự suy thoái làm mất niềm tin nơi quần chúng, có quá nhiều bóng tối lẩn khuất trong ánh sáng, để những lựa chọn cá nhân luôn rơi vào bế tắc hoặc sai lầm hoặc chấp nhận sai lầm. Một gia đ́nh, người vợ không c̣n đủ niềm tin vào sự chung thuỷ của người chồng nữa, v́ những cám dỗ dục vọng của những bóng tối bên ngoài quá nhiều, quá dễ để sa chân vào những bóng tối. Nền văn minh du lịch chịu sự suy thoái của những loại “sex tours”, lối sống văn hoá bị bào ṃn bởi những “măi dâm”. Ư thức quần chúng chịu nhiều ảnh hưởng của những lối sống chạy theo đam mê dục vọng. Tài chánh chi phối và làm tiêu tan nhiều giá trị văn hoá từ trong phôi thai của gia đ́nh, con cái kiện cha mẹ để hưởng phần hồi môn, cha mẹ bỏ rơi con cái v́ những đam mê của cá nhân… Những cộng đoàn cũng đang rơi vào t́nh trạng bị tài chánh chi phối, những cuộc quyên góp xem ra quá nhiều, những h́nh thức mỵ dân xem ra cũng quá nhiễu.
Như vậy cần có một cứu cánh, cần có một giá trị của nền văn hoá vừa bảo đảm cho sự phát triển nền văn hoá trần thế của từng dân tộc mà vừa phát triển cách bền vững cho tương lai dài, ở đây tôi xin gọi mạo muội ấy là nền “văn hoá ra khỏi mồ” bắt đầu từ Đức Giêsu lịch sử, một con ngừơi – Chúa - đă chết và đă sống lại – ra khỏi mồ
CHÚ THÍCH CHƯƠNG 3
[1] Chú
giải dẫn nhập đọc Cựu Ước phần
3, của Thiophilo.
[2]
Theo Reuter, ngày 12 – 2 – 2004.
[3] St 11, 1- 9.
[4] 1Cor 15,14.
[5] Xem Upanishads 1.3,3-9.
[6]
con đường tâm linh Đông Phương, Theodore M.
Ludwig, NXB Văn Hóa Thông Tin, 2000.
[7] Cơ
sở văn hóa Viết nam, Trần Ngọc Thêm, trang 209, Trường
Đại Học KHNV, 1997.
[8]
Tham khảo tài liệu của Lm Nguyễn Văn Trinh rút ra
từ Bài thuyết tŕnh của G.S. Ahmad Hasan Dani, tại
Unesco tổ chức ở Osaka (Nhật), tháng 10 -1988.
[9] Croyances et pratiques religieuse des Vietnamiens, q 1, 1958.