Nhà mồ và vai tṛ của tôn giáo.
Tưởng nhớ người quá cố là hành vi đầu tiên biểu lộ niềm tin tôn giáo của người c̣n sống đối với người quá cố.
Từ lư thuyết sơ khai về hai cơi Âm – Dương cách trở, người nguyên thủy đă nghĩ đơn giản rằng: Âm sao Dương vậy, nên đă chôn cùng người chết những dụng cụ lao động và những ǵ thường dùng khi người quá cố c̣n sống. Người xưa nghĩ về một thế giới khác với thế giới họ đang sống, tuy không nh́n thấy mà vẫn rất gần gũi. Những tai họa trong thiên nhiên hay những biến cố tai ương trong cuộc sống ban đầu là thường gán cho những người chết dữ, cho nên không chỉ cúng bái với người chết lành mà c̣n cúng bái những người chết dữ để đổi lấy sự yên b́nh.
Niềm tin vào đời sau làm nên tâm thức đầu tiên về tôn giáo, một tôn giáo sơ khai như tín ngưỡng phồn thực cũng thấy dấu chứng của việc thờ những ǵ biểu hiện sự sống. Biểu tượng được thờ ấy chứng tỏ rằng, con người chết không phải là hết, cái chết sự dữ này có liên quan với môi trường thiên nhiên, từ đấy ta thấy phát sinh một nguồn thờ kính khác: Bà Trời – Bà Mẹ Đất- Bà Mẹ Nước – Bà Mẹ Sản Sinh. Sự chuyển hóa đối tượng thờ kính cho thấy rằng tâm thức về tôn giáo có tiến tŕnh đi lên vươn cao hơn nữa để trả lời cho vấn đề về số phận con người phải chết. Con người xưa biết rằng giới hạn của con người tới một mức nào đó và có sự tùy thuộc vào một Năng Lực siêu nhiên nào đó mà người ta gọi là Bà Trời – Bà Mẹ Đất – Bà Mẹ Nước – Bà Mẹ Lúa.
Năng lực ấy người b́nh dân lại không thể siêu nhiên hóa măi được, nên cần phải có h́nh dong, cần phải có h́nh tượng và từ ấy tin rằng có các Mẫu: Thượng Thiên - Địa - Thượng Ngàn - Thoải trong hệ thống tứ phủ gặp trong Đạo Mẫu. Mẫu Ya na, Mẫu Cửu Trùng hay Cửu Thiên Huyền Nữ, gặp ở Huế là Thiên Mụ… Từ các mẫu lớn cũng có những Mẫu nhỏ như Nữ thần Sấm, Chớp, Mây, Mưa. Song song với những quyền lực tự nhiên c̣n có quyền lực của mănh thú: Tiên - Rồng biểu tượng sức mạnh sinh sản siêu việt của người Việt. Hồng Bàng là Con chim lớn miền sông nước biểu thị cho sức mạnh che chở, bảo vệ. Rồng Tiên, Hồng Bàng được chuyển hóa vào những địa danh như: Hàm Long, Thăng Long, Hạ Long, Cửu Long, Vĩnh Long, Hồng Hà, Hồng Ngự…
Quy luật tuần ḥan lại một lần nữa thấy trong tâm thức tôn giáo khai nguyên: Con người – Siêu nhiên – Con người. Từ tâm thức gắn bó với Siêu nhiên ta lại thấy trở về với con người như cách gọi Bà Trời, Bà Đất… rồi thấy trở lại với con người. Về gốc lần này con người nhận ra chính ḿnh: Con người không chỉ là xác thể mà c̣n có hồn linh. Xác thể là một hồn linh th́ có Hồn và vía. Hồn linh của con người đi từ suy tư ước lệ theo số lẻ nên dân gian tin rằng mỗi người có 3 hồn, nam có 7 vía, nữ th́ 9 vía. Tại sao nữ lại có nhiều vía hơn nam, bởi v́ thực tế cho thấy rằng người nữ trước sự cố bất ngờ th́ b́nh tĩnh hơn nam, nhiều vía hơn nên chậm rúng động “hết hồn hết vía” hơn. Cũng có người cho rằng vía là trung gian giữa xác thể và hồn, cai quản các cửa ngơ ra vào như hai tai, hai lỗ mũi, hai mắt và miệng đối với nam và nữ có thêm nơi sanh nở và cho con bú.
Hồn và vía c̣n lại sau khi xác thể đi vào trạng thái tĩnh, nên có nhu cầu cúng kiến phần động, người ta thường xá lạy hồn vía ông bà ông vải v́ tin rằng các cụ vẫn ở đâu đấy với con cháu phảng phất qua khói hương. Từ tín ngưỡng đến đạo cách xa nhau một hệ thống và nền luân lư đạo thường. Tín ngưỡng th́ không thấy bài giáo pháp cũng không thấy một hệ thống, hệ thống h́nh thành bắt nguồn từ tính tôn ty trật tự ở trong gia đ́nh khi thờ kính người đă khuất. Đạo lư cũng vậy, là sống những điều cha ông đă sống, giữ lấy lề, giữ lấy nhân nghĩa, để mà sống hài ḥa với nhau. Tín ngưỡng hay đạo, khác nhau ở từ ngữ và cũng khác nhau ở giai đọan tiến triển. Ư thức về đạo th́ rơ ràng hơn và có hướng dẫn cụ thể hơn ở giai đọan tín ngưỡng. Từ Đạo đă diễn tả nội dung đi đâu về đâu, bởi đạo là là đường đi, có định hướng, có bao hàm nội dung để sống những giá trị thần linh.
Đạo bước vào cơi tâm linh như một
kim chỉ nam hướng dẫn đời sống con người
đi đâu và về đâu, trả lời cho con người
về câu hỏi nguồn gốc và đích điểm của
cuộc đời, giải mă cho con người những uẩn
khúc đau thương trong cuộc sống, hướng dẫn
con người sống những giá trị linh thiêng giữa
một thế giới phù du vật chất… Vai tṛ tôn giáo và
tâm linh làm cho con người xứng đáng là con người,
vượt xa các loài được tạo dựng khác.
Ở Ấn Độ giáo cổ xưa, cung ṿng tṛn theo quan niệm tuần ḥan được diễn tả qua các sách Sử Thi, Kinh, cho thấy nguyên sơ đi từ tính chất phong nhiêu của cuộc sống đến quan niệm Vị Thần Sáng Tạo và cuối cùng trở về với con người đang sống trong thực tại đang trên đường trở vế nơi ḿnh đă xuất phát ra. Như vậy, thấy ngay lược đồ: Hiện tượng - Thần linh – Con người, là những giềng mối cơ bản trong cách thức t́m các câu trả lời cho vận mệnh đời người. Về nguồn gốc, với Ấn Độ Giáo t́m về Nhất nguyên gọi vị Thần sáng tạo Tối Thượng là Brahman (Đại Hồn), là căn nguyên cội nguồn cho mọi sinh sống, từ Brahman sinh ra Atman (Tiểu Hồn), con đường Atman trở về với Brahman là con đường của tôn giáo hướng dẫn. Ấn Độ giáo quan niệm con người và linh hồn như chiếc xe ngựa kéo, thân xác là chiếc xe và người lái ngựa là linh hồn, linh hồn cần chế ngự thân xác, để thân xác chạy khỏi lạc hướng, và tới cùng đích. Chính v́ thế, chế ngự thân xác trở nên một nhu cấu thiết bách để Atman trở về hợp nhất với Brahman[5].
Để chế ngự thân xác Upanishads đề ra ba con đường giải thoát:
Con đường tri thức giải thóat: Dành riêng cho số ít người với phương pháp trầm tư và Yoga, phương pháp này giúp thân xác ít lệ thuộc vào ngoại giới hơn và rút sâu vào cơi tâm linh. Cơi tâm linh sâu thẳm ấy cũng được phát biểu là Brahman, chính trong mỗi người cũng đang trút bỏ Atman trở về với Brahman, khi kiềm chế và trút bỏ thân xác.
Con đường hành động: Có những hành
động bắt nguồn từ những dục vọng
đen tối đưa đến sự tiêu diệt, cũng
có những hành động đưa đến hiệu quả
trường sinh, giải thoát khỏi ṿng luân hồi. Người
theo con đường hành động, cần chắt lọc
để chọn lựa những hành vi mang hiệu quả
tốt cho lần sinh sau, và khi đă đủ hành động
tốt họ được giải thóat khỏi luân hồi.
Theo con đường này, xă hội Ấn Độ đă
h́nh thành thể chế giai cấp. Ai ở trong giai cấp
nào cứ hành động theo bổn phận giai cấp của
ḿnh để đạt hiệu quả tái sinh. Trên thực
tế con đường hành động khó có thể đưa
tới giải thoát, bởi v́ chằng chéo rất nhiều
bổn phận với những tác động khác, ngay trong
sử thi cũng đưa các nhân vật bị giằng co
giữa t́nh yêu và bổn phận.
Con đường sùng mộ: Con đường
sùng mộ là con đường phổ quát dành cho mọi người
ở trong mọi tầng lớp giai cấp, ḷng sùng mộ
Đấng Tối cao sẽ hướng dẫn hành động
điều ǵ làm đẹp ḷng Ngài, Từ đó phát sinh hiệu
quả cho việc tái sinh.
Luân hồi là biểu hiện kiếp trầm luân và cũng biểu hiện khát vọng sống dồi dào, từ trạng thái này bước sang trạng thái khác cho đến khi trở về với Brahman thực sự, nghĩa là ra khỏi ṿng luân hồi. C̣n trong ṿng luân hồi là c̣n ở giữa sinh và tử, đau thương này cho tới đau thương khác, cũng không hẳn là đau thương nhưng Ấn giáo cho thấy tính tương đối của sự vật và hiện hữu, con người giữa phù sinh đi t́m chân lư vĩnh cửu. Khát vọng sống dồi dào biểu lộ trong khi t́m chân lư vĩnh cửu.
Chân lư vĩnh cửu của sự sống được t́m kiếm trong nhiều nguồn mạch tôn giáo khởi nguyên từ Ấn Độ.
9. Phật giáo:
Sự chết làm cho con người bận tâm
nhiều về ư nghĩa cuộc đời của ḿnh, dù
có muốn quên đi nhưng vẫn không thể phủ lấp,
bởi sự chết có mặt thường ngày, đối
diện với sự chết là cách thức đi t́mngọn
nguồn và ư nghĩa cuộc đời của ḿnh là cách khôn
ngoan nhất.
Phật giáo ra đời với nguồn gốc
Ấn Độ giáo, khác với Ấn giáo nhưng có nhiều
điểm chung với Ấn giáo[6].
Phật giáo ra đời với ĐứcPhật Thích Ca Mâu
Ni. Cuộc đời Đức Thích Ca Mâu Ni gắn liền
với giáo lư truyền giảng, có dấu ấn kế thừa
niềm tin Ấn Độ giáo về Luân hồi và giải
thoát. Đức Phật sinh vào năm 563B.C, cùng thời với
lúc các vị chân tu Ấn Độ giáo sọan kinh
Upanishads, tại Shakya, nên cũng gọi Đức Phật
là Shakyamuni - Một người Shakya trí huệ. Ngài sanh trưởng
trong ḍng dơi ḥang triều, lớn lên lập gia đ́nh, có một
người con, sau đó vào năm 29 tuổi phát nguyện đi
tu, t́m con đường giải thoát. Con đường t́m
kiếm của Ngài bắt đầu bằng thao thức về
phận số của con người theo ḍng luân hồi,
sinh bệnh lăo tử, nhận thấy cuộc đời đầy
đau khổ, tứ bể khổ hằng bao bọc lấy
con người, và ngài đă bỏ ḥang triều, gia đ́nh
để phát nguyện đi t́m chân lư.
Bước đầu trên con đường đi t́m kiếm chân lư của Đức Phật là nhận thấy: Đời là bể khổ, sinh ra là khổ, bệnh là khổ, lăo là khổ và chết cũng là khổ. Giữa tứ khổ ấy, Đức Phật ngộ ra cơi đời này là vô thường và phi ngă, bởi ta mê lầm lấy cái tương đối làm tuyệt đối nên làm khổ một đời. Để tránh khỏi bể khổ đó sau khi giác ngộ, Đức Phật t́m ra con đường Bát Chánh Đạo để đạt tới con đường giải thoát.
Vận mệnh cuối cùng của con người là ǵ? Phải chăng như quan niệm Ấn Độ giáo, Trời là tối thượng, trời sinh voi, trời sinh cỏ. Đức Phật bận tâm nhiều về sự tinh tấn trong thực hành tâm linh hơn là quan tâm vấn đề triết học và vũ trụ luận. Con đường cụ thể thực hành tâm linh ấy là con đường Tứ Diệu Đế:
Khổ Đế: (Duhkka – satya), giác về khổ qua tứ khổ: Sinh, bệnh, lăo, tử và các thứ đau khổ khác như “ai biệt ly khổ”, “óan tăng hội khổ” “cầu bất đắc khổ”. Giác về khổ để đi vao con đường giải thóat khỏi bể khổ.
Tập Đế: (Samudaya – satya) Nhận thấy sự đau khổ và cần biết đến cội nguồn của khổ đau ấy là ǵ, đó là con đường Tập Đế. Đau khổ bởi v́ chấp trước ái, ố, hỷ, nộ, dục, sinh tử. Con đường đau khổ ấy cho thấy con người c̣n trong ḍng luân hồi giữa cuộc đời vô thường.
Diệt Đế: (Nirodha – satya) c̣n gọi là giải
thoát luận, diệt khổ tức là diệt thân, diệt
thân có nghĩa là giải thoát bản thân khỏi bể đắm
dục vọng, ái, ố, hỷ, nộ, sinh, tử.
Đạo Đế: (Màrga – satya), con đường dẫn đến giải thóat hay c̣n chính là Bát Chánh Đạo. Con đường tuệ giác bằng tâm linh và bằng hành động:
Chính kiến để lấy tuệ làm thể.
Chính tư duy để lấy tâm làm thể.
Chính ngữ lấy giới làm thể.
Chính nghiệp lấy giới làm thể.
Chính mệnh lấy giới làm thể.
Chính tinh tấn lấy cần làm thể.
Chính niệm lấy niệm làm thể.
Chính định lấy định làm thể.
Bát chánh đạo là con đường liên tục không tách rời, trong đó con đường này hỗ trợ cho con đường khác, đó là con đường ma Đức Phật đă trải qua để đi tới conđường ṭan giác, thấy được chấp trước và giả cảnh của ḿnh để hướng tới Niết Bàn.
Phật truyện kể lại câu chuyện cuộc đời của Đức Phật, câu truyện này không kết thúc ở cuộc đời Đức phật, bởi v́ chính Đức Phật cũng đă trải qua những cuộc đời tiền kiếp, và trong tương lai vẫn có những Đức Phật xúât hiện ở những kiếp khác, theo Đại Thừa, các vị đă đạt vào cơi Niết Bàn nhưng vẫn t́nh nguyện ở lại trong cơi luân hồi sinh tử để độ cho chúng sinh. Truyện kỳ vẫn phát triển và có tính lan rộng khá xa đến các nền văn hóa nhiều nơi.
Thế kỷ thứ 5 B.C. Phật giáo khai sinh cùng với Đức Phật, trong hai thế kỷ đầu Phật giáo phát triển chủ yếu ở lưu vực sông Hồng Hà, nhưng vào thế kỷ thứ 3 B.C. Phật giáo đă ảnh hưởng ṭan bộ Ấn Độ với sự xuất hiện của Quốc Vương Ashoka (272 – 236 B.C.).
Cuộc đời của Quốc Vương Ashoka cũng đầy máu lửa khi chinh phục xứ Kalinga, bao nhiệu sự giết chóc đă làm cho quốc vương phải suy nghĩ về giáo lư của Đức Phật. Chính ông đă thay đổi, sống đời cư sỉ, vào tu viện để sám hối. Sau thời gian này, ông trở về Vương quyền, thay đổi luật pháp, lấy Phật Pháp để cai trị để mưu cầu ḥa b́nh, cho xây rất nhiều Phù Đồ, Tháp, lập các tượng, làm nên một nền văn hóa Phật giáo phong phú. Trong kư ức của các Phật tử , Ashoka chính là Nhị Tổ của Phật giáo.
Phật giáo theo truyền thống lan rộng trong 18 tông phái, trong đó có hai tông phái ảnh hưởng nhiều hơn cả:
Đại Thừa: Mahayana chính là chiếc xe lớn. Trường phái Đại Thừa mở rộng đón tiếp mọi người, trên con đường giác ngộ mọi ngừơi đều b́nh đẳng, mọi người đều được kêu gọi trong con đường giải thoát. Tuy nhiên, con đường giải thóat ấy có nhiều lối đi, không chỉ là Tăng, Ni, có nhiều lối đi mỗi người theo khả năng của ḿnh có thể sống và lựa chọn để đi tới Niết Bàn. Tông phái Đại Thừa có ảnh hưởng nhiều ở các nước Đông Á.
Tiểu Thừa: Hinayana, nghĩa là chiếc xe nhỏ, quan niệm hẹp hơn, cho rằng người ta chỉ đạt được tới chứng quả A La Hán thôi, con đường đạt tới Niết Bàn chỉ dành cho một số ít người ưu tuyển như Đức Cổ Đàm mà thôi. Sở dĩ có sự thâu hẹp như thế, do các Vị La Hán muốn giữ chân truyền của Đức Phật để lại, và là nhóm tinh hoa, chỉ có họ mới hiểu hết chân pháp của Đức Phật. Từ việc thu hẹp này chịu ảnh hưởng của việc trải rộng nên phát sinh ra con đường Đại Thừa.
Trong Tông phái Đại Thừa có những nhánh học phái quan trọng:
Học phài Du Già luận, tập trung vào tâm điểm của thế giới huyền ảo và hiện thực hóa. Chỉ có một tâm điểm trong ḥan vũ, thế giới sinh nghiệm là không chỉ có tri kiến mới là thực. Sau này, các triết gia trong học phái này đồng nhất Tâm đó là Như lai Tâm, nghĩa là cái tâm sinh ra các vị Phật. Vạn vật hữu Phật tính, thực hành Du Già để thấy được căn nguyên Phật tính trong vạn vật đó. Nhận ra Phật tính là đạt tới giác ngộ.
Học phái Trung Quán luận: Học phái này khai sinh với Long Thọ (Nagarjuna 150 – 250 B.C.), một nhà tư tưởng uyên bác. Tư tưởng về: “Chư Pháp thực tướng” và gọi đó là “Chân không vô tướng”. Tất cả ṿng luân hồi sinh tử đều là không, cả Niết Bàn cũng là không. Hiểu được chữ không này là đạt tới giác ngộ để nhận ra Phật tính trong chính bản thân ḿnh. Để suy tư vấn đề này, ông đưa ra một phương pháp suy tư: “ngôn ngữ đạo đọan”, có nghĩa là suy luận logic quy giản đến phi lư, để nhận ra rằng trong mọi vấn đề đều có những mâu thuẫn nội tại, mâu thuẫn trong nội tại không chấp nhận nhị nguyên, cho nên chỉ có Một ở bên ngoài thế giới khả niệm, khả giác, hiện tượng, khái niệm và ngôn ngữ. Giác được Một bên ngoài ấy là giải thóat.
Kim Cương Thừa: Vajrayana, tông phái này kế thừa Ấn Độ giáo trong nghi lễ , phụng tự, đồ h́nh, mật chú, để đạt tới giác ngộ. Con đường giác ngộ này có ảnh hưởng nhiều trong dân chúng, để đưa tới nhiều Vị Phật và Bồ Tát mới, các nam nữ thần, các song thân, như đại diện cho vũ trụ. Đức Cổ Đàm, từ nay có thêm Quan Âm Bồ Tát đại diện cho lượng từ bi, vào Đất Việt có Phật Mẫu Liễu Hạnh, có thêm các Thánh…
Việc phụng thờ đối với Phật giáo không theo nghĩa của việc tôn thờ mà theo nghĩa của việc tự hạ, nhận ra chính ḿnh, bày tỏ ḷng biết ơn, kính trọng và sùng mộ với Phật Pháp Tăng. Theo Phật giáo, con đường giải thoát không hệ tại ở việc thờ phụng trong nghi lễ mà hệ ở tại việc tịnh tâm và thực hành giới luật. Chính công việc làm của mỗi người mới quyết định tương lai tối hậu cho ḿnh. Việc dâng cúng từ đó mang một ư nghĩa thể hiện ḷng từ bi, hỷ xả giúp người ta khai mở tâm vô ngă và ḷng từ bi.. Việc cúi đầu không phải là việc xin tha thứ, xin phước mà là tỏ bày ḷng kính trọng, biểu lộ trạng thái trút bỏ tự ngă để quay về căn tính Phật trong ḷng mỗi người, điều mà người ta gọi là tâm Phật. Tâm Phật nơi mỗi người hướng họ vể ṭan bộ sinh linh, tôn trọng mọi sự sống trên trái đất, v́ thế họ tránh sát sinh.
Thiền là một trạng thái trút bỏ cơi mê để tịnh tiến xa bờ dục vọng hầu vượt qua ḍng sông luân hồi, t́m đến giải thoát, từ đó, tâm và tuệ được khai mở trong sáng hơn.
Nh́n chung con đường nghi lễ phụng
thờ có một chiều hướng trút bỏ nhiều hơn
là dừng lại ở việc thờ kính để đổi
lấy điều này điều kia. Ai yêu mến Phật
Pháp Tăng hăy thực thi theo tâm từ bi của Tam Bảo,
chứ đừng t́m tư lợi cho riêng ḿnh mà biến hóa
thành một tôn giáo mưu t́m vật chất, danh vọng, thỏa
ḷng dục, đam mê.
Niềm Tin Đất
Việt.
Một dân tộc bao giờ cũng có những cơi tâm tư riêng biệt đặc sắc của ḿnh, bàn về tâm tính Việt trước khi Phật giáo ảnh hưởng vào Đất Việt, phần nào xác định cơi riêng tâm tư ấy.
Theo tác giả Trần Ngọc Thêm Phật giáo vào
Đất Việt từ đầu công nguyên: “Theo đường
biển, nhà sứ Ấn Độ đă đến Việt
Sự phát tán Phật Giáo từ Ấn Độ
sang các nước Đông Á sớm hơn. Theo Theodore M.
Ludwid, Phật giáo lan rộng dưới thời A Dục Vương
(Ashoka 272 – 236 B.C). Như nhận định trên “Luy Lâu sớm
trở thành trung tâm Phật Giáo”, điều này chứng tỏ
không một sớm một chiều mà Luy Lâu lại trở
thành trung tâm Phật giáo quan trọng. Hơn nữa để
xác minh sự qua lại cũng cần xác minh “Con đường
tơ lụa” nối giữa Tây và Đông và cũng là gạch
nối giữa các nước phía Đông. Alexandre đại
đế vào cuối thế kỷ thứ 4 trước Công
Nguyên, theo con đường từ Tây sang Đông để
chinh phục cũng như để giao thương hàng hóa.
Thế kỷ 1 B.C[8],
khám phá ra hiện tượng gió mùa thổi từ Tây sang Đông
vào mùa Xuân, và từ Đông sang Tây vào mùa Đông, đă biến
Ấn Độ Dương thành con đường thương
măi hưng thịnh.
Trước tất cả những giao thương ấy, Đất Việt chưa chịu sự ảnh hưởng của Trung Hoa, cũng chưa có dấu vết của Phật giáo, vậy niềm tin trên Đất Việt là ǵ?