Ngôi
mồ - Sự phát triển tâm linh.
Theo sự phát triển, niềm tin cũng có sự tiệm tiến, mà sự phát lộ ra bên ngoài là những dấu chứng đề thấy bước tiến của niềm tin.
Niềm tin nguyên thủy từ nấm mộ và
cây trụ đá: Có hai hướng phát triển, b́nh dân và bác
học.
Đối với người b́nh dân:
Nói đến tín ngưỡng phồn thực sợ rằng sẽ mất ư nhị chăng? Nếu mà không nói ra th́ dường như thiếu điều ǵ đó cơ bản khi chứng minh sự phát triển của niềm tin. Thôi th́ cứ nói cách thanh trong cơi tục như xưa Nguyễn Du đă viết và đạt đến mức thành công nào đó trong nét thanh cao độ.
Tại xứ nông nghiệp niềm tin phôi thai được phát lộ qua tín ngưỡng phồn thực. Phồn có nghĩa là nhiều, thực có nghĩa là nảy nở. Nảy nở thêm nhiều trong một thực tại khó khăn về vật chất là một ước muốn t́m thấy hạnh phúc, và no đủ. Từ một nhu cầu thực tế và thiết yếu của cuộc sống, con người b́nh dân đi t́m những ǵ thấy trong thiên nhiên để đáp ứng cho ḿnh. Giai đọan này có thể gọi đó là giai đọan trực quan. Thấy sự sinh sôi là một thiết yếu, họ t́m thấy lối thoát cho ḿnh là tín ngưỡng phồn thực, mà vật thờ không ǵ khác chính là bộ phận sinh thực khí.
Giai đọan này tồn tại rất lâu đời trong lịch sử tín ngưỡng Ở Việt Nam, người ta t́m thấy tại Vân Điển (Hà Nội) những tượng đá, h́nh nam nữ với bộ sinh thực khí phóng to nhiều lần xưa đến vài ngàn năm trước công nguyên, trên những tảng đá trong thung lũng Sapa, trong các nhà mồ Tây Nguyên. Nhiều phong tục rước sinh thực khí thấy ở các hội làng như Đồng Kị (Hà Bắc), Phú Thọ, Hà Tây.
Người b́nh dân cũng không thiếu tính tưởng tượng, những cột trụ đá và các loại hốc (núi, cây..) được phong phú hóa bằng trí tưởng tương ra thành sinh thực khí để thờ. Ở Chùa Đạm (có cây trụ thờ h́nh sinh thực khí có khắc nổi h́nh rồng thời Lư). Ngư phủ ở vùng Sở Đầm Ḥn Đỏ (Khánh Ḥa) thờ một khe nứt lớn trên một tảng đá mà dân gian gọi trại đi là Lỗ Lường.
Người b́nh dân trong tín ngưỡng phồn thực cũng thấy thể hiện một niềm tin quan trọng, con người sinh ra để sống chứ không phải để chết, chính v́ vậy mà vẫn hy vọng vào sự sống nảy sinh ngay cả khi con người phải chết. Niềm tin đó được kư thác vào việc truyền sinh, nảy nở, hoa trái của con người gieo vào ḷng nhân thế. Thưở hồng hoang, niềm tin ấy c̣n đơn sơ, dựa vào thực tại của việc sinh nở mà hy vọng, cho nên c̣n thấy trong tín ngưỡng phồn thực c̣n thấy lại trên đá những dấu ấn tạc lại ngay cả những hành vi giao phối của người cũng như của các con vật.
Khi con người tiến bộ hơn, các nghệ
thuật phát triển hơn và cũng tế nhị hơn,
người ta chuyển hóa h́nh ảnh ấy qua những h́nh
thể mỹ miều và đặc sắc hơn.
Trống Đồng của người Việt cũng mang theo tính trừu tượng hóa hành vi ấy, phác họa bằng cách đánh trống, dùng chiếc chày dựng đứng để đánh vào mặt trống. H́nh ảnh này phác họa cách giă gạo xưa kia của người Việt, hiện nay vẫn c̣n thấy ở nhóm dân tộc Mường.
Tại Ấn Độ, trong số các đề tài nổi bật nhất ở Bharhut và Sanchi là các h́nh tượng nam nữ đứng, khó có thể mà không nhắc tới những chạm trổ điêu khắc Dạ xoa nữ, một h́nh tượng mang đấy nét phong nhiêu, biểu tượng cho sự sinh sôi nảy nở. Một số h́nh tượng khác đứng theo nghi thức lễ bái, với đôi bàn tay ôm chặt trên ngực, nhiều h́nh tượng mang theo tính gợi cảm. Dù mỗi bức tượng hay chạm trổ có tên gọi khác nhau như Chằn cái Dạ xoa, hộ thủ, chiến sĩ hoặc Nagaraja (Vua các loài rắn), chúng đều có đặc điểm giống nhau, là liên hệ tới việc sinh sôi nảy nở. Sự sống là quan trọng, sự sống ấy không hề mất đi khi con người phải chết. Đó là điều lư giải hợp lư nhất cho các h́nh tượng phong nhiêu.
Một số kiểu thức nghệ thuật Phật Giáo khác, có ảnh hưởng trong vùng Đông Nam Á dọc theo bờ biển phía Đông, dọc theo sông Krishma. Khởi đầu từ nhà vua Ashoka, vùng này là quê hương của những trung tâm tu viện nổi tiếng và của một số các giảng sư vĩ đại nhất trong giới Phật Giáo.
Văn hóa Chăm ảnh hưởng từ Ấn Độ từ thế kỷ thứ 7 đến hết thế kỷ 15, với Bàlamôn giáo là yếu tố quan trọng nhất. Với biểu tượng văn hóa đặc sắc nhất không thể nào không nghĩ tới Tháp Chăm, đứng giữa trời uy nghi, sừng sững trước những sóng biển bao la. H́nh thù Tháp Chăm mang h́nh quả núi, mang tính chất lăng mộ thờ vua, người Chăm gọi là Kalăn, có nghĩa là lăng, ngoài chức năng thờ Vua, Tháp Chăm c̣n thờ các thần bảo hộ cho nhà vua, trong ḷng tháp chật hẹp, chỉ đủ chỗ cho pháp sư hành lễ chứ không nhằm để cho tín hữu tụ họp. Chính v́ thế Tháp Chăm biểu lộ tính riêng tư. Cơi riêng tư ấy có vật thờ phổ biến nhất là Linga. Có ba loại Linga: Loại 1 thành phần chỉ là một trụ tṛn; Loại hai thành phần gồm trụ tṛn và chân đế vuông; Loại ba thành phần, gồm phần trên trụ tṛn, phần giữa mang h́nh bát giác và chân đế mang h́nh vuông, loại h́nh này biểu lộ rơ nét nhất trong ảnh hưởng Bàlamôn giáo, Phần trên cùng đại diện cho thần Shiva (Hủy diệt), phần giữa đại diện vị thần Vishnu (bảo tồn) , phần vuông đế đại diện cho thần Brahma (sáng tạo).
Ḍng Âm tính trong văn hóa Mẹ cũng là một
ḍng chảy mạnh không kém ǵ ḍng văn hóa mang tính Dương.
Như thấy các họa tiết trang trí trong văn hóa Chăm,
các bầu sữa chạm trổ chung quanh các bệ tượng,
người Chăm cũng thờ Thần Mẫu như Tháp
Bà (Nha Trang).
Ảnh hưởng vào Việt nam nở rộ nhất là vào triều Lư (1049):
Như c̣n thấy di tích của Chùa Một Cột. B́nh đồ của Chùa Một Cột (Dương) nằm trong một chiếc hồ vuông (Âm). Chùa Một Cột có tên chữ là Nhất Trụ Tự hay Liên Hoa Đài. Ngôi chùa này không c̣n ṭan vẹn như thưở ban đầu thời Lư. Thành phần c̣n lại có thể tin là vào thời Lư là cây cột trụ chính gồm hai khúc tṛn chồng khớp lên nhau, đường kính 1m 2, đội ṭa nhà bên trên như cuống của đóa hoa sen nổi trên mặt hồ nước vuông nhỏ, mỗi cạnh khỏang 16m.
Với Triều Lư, Lư Thần Tôn có dịp mở hội đă đặt 81.000 cây tháp vào năm 1129, khánh thành gác Thiên Phù nơi góc Tây Nam Dàm Đàm (Hồ Tây). Khai quật khảo cổ người ta t́m thấy những mảnh vỡ của những cây tháp nung, h́nh dáng thắt nở rơ rệt, có đọan là tầng dưới của một cây tháp đặt trên một nền bệ hoa sen hai tầng cánh hoa, chân bệ có đính những chiếc lá Bồ Đề hay lá Ṣi chạy theo khắp mặt thẳng của bệ. những cánh hoa, chiếc lá này biểu tượng cho sự sinh sôi nảy nở, ph́ nhiêu của đất đai, ḷng bao dung của Đức Phật Từ Bi.
T́m trong di sản văn hóa Việt chúng ta có thể
thấy bàng bạc khối Âm Dương đan xen nhau trong
nhiều công tŕnh kiến trúc như Tháp Bút - Đài Nghiên ở
cổng Đền Ngọc Sơn (Hà Nội), cửa sổ
tṛn trên gác Khuê Văn (tượng trưng cho sao Khuê) soi ḿnh
xuống hồ nước h́nh vuông. rồi c̣n nhiều biểu
tương khác nữa mang h́nh dấu khối vuông tṛn…
Từ niềm tin vào sự sống sơ khởi chúng ta đă thấy sự tiến triển trở thành tâm thức tôn giáo, ư thức về thần linh rơ rệt. Sự phong nhiêu được chuyển từ cơi tục sang cơi thiêng, từ h́nh thức nguyên sơ đến h́nh thức trang trọng, từ thô sơ đến tinh vi và sắc xảo.
6. Sự phát triển theo chiều hướng bác học.
Theo hướng phát triển bác học, h́nh thành từ ngôi mộ từ nguyên sơ đă thấy rơ ràng hai cơi Âm – Dương cách biệt nhau. Cũng thế đi từ sinh truởng con người cũng cần đến có cặp Cha - Mẹ, sự sinh sản của hoa màu th́ do hai yếu tố Đất - Trời, về giống loại cần có Đực – Cái. Điều khái quát đầu tiên là con đường đi vào triết lư Âm – Dương.
Triết lư Âm – Dương, theo quy luật chuyển dịch mà sinh hóa muôn loài.
Kinh Dịch là một bộ sách cổ trong Ngũ Kinh của Trung Hoa, theo truyền thuyết từ thời Thượng cổ, vua Phục Hy (4477 – 4363 B.C) nh́n thấy những dâu vết trên lưng long mă nổi trên sông Ḥang Hà mà lập ra Hà Đồ, vạch ra tiên thiên bát quái gồm 8 quẻ, mỗi quẻ có 3 gách, gách liền là Dương, gách đứt biểu thị Âm. Từng đôi quẻ chồng lên nhau (gồm 6 vạch) qua 8 quẻ tạo nên 64 quẻ kép. Đời nhà Hạ, vua Đại Vũ (2205 – 1766 B.C) nhân lúc trị thủy thấy dấu vết trên con rùa rhần trên sông Lạc mới lập ra Lạc Thư. Kinh dịch đến đây vẫn chỉ là lư thuyết chưa thành văn tự, khi vua Văn Vương bị bắt giam, ông mới dùng các thẻ của Phục Hy lập thành hâu thiên bát quai, dùng văn tự ghi lại những tốt xấu của từng quẻ. Dịch lư th́ uyên thâm, phải tới khi Khổng Tử (551 – 479 B.C) mới khai sáng bằng những thiên truyện của ḿnh gọi là Thập dực. Từ đó Dịch học phát triển mạnh mẽ và phong phú.
Dịch trở thành Đạo, một hôm Khổng Tử đứng bên bờ sông thấy nước chảy, nước chảy là một hiện tượng thiên nhiên, nhưng với Khổng Tử th́ lại khác: “Chảy măi như thế kia, ngày đêm chẳng ngừng”. Hiện tượng chảy ấy thấy trong trời đất, hết đêm lại ngày, hết lạnh rồi nóng, hết sáng rồi tồi, sống rồi chết, sinh hóa măi chẳng dừng. Cái ǵ là gốc của sự dịch chuyển ấy, đó là Đạo, Đạo sinh hóa không ngừng. Cái ǵ sinh, Chu Hy nói: “Âm sinh Dương, Dương sinh Âm, sự biến hóa th́ vô lường”. Nguyên lư sinh hóa là sự dịch chuyển của Âm – Dương qua lại. Nguyên lư này được phát biểu dựa trên hai quy luật:
Quy luật về bản chất các thành tố: Không có ǵ ḥan ṭan Âm hoặc ḥan ṭan Dương, trong Âm có Dương, trong Âm có Dương, trong Dương có Âm. Dương – Âm tuy hai mà một. Một đó là Thái Cực, Soothill mô tả tả bằng cái chất lỏng thun giăn. Sau thời gian dài họat động và theo một đường ṿng, Thái Cực phân thành hai, một phần tử nhẹ là trời, một phần nặng là đất. Sự thun giăn của Thái Cực làm nên sự sinh hóa và được phát biểu trong Dương có Âm và trong Âm có Dương.
Quy luật sinh hóa: Dương sinh Âm, Âm sinh Dương, Âm – Dương luôn chuyển hóa mà sinh. Chu Hy nói rằng: “Thái Cực tự nó bao hàm cái lư của sự động tĩnh, không nên lấy trạng thái động tĩnh mà phân chia thể dụng, bởi v́ tĩnh là thể của Thái Cực, c̣n động tức là dụng của Thái Cực”. “Âm – Dương chỉ là một khí. Khí Âm lưu hành tức là Dương, khí Dương ngưng tụ tức là Âm. Dịch nói: Sinh rồi lại sinh, th́ gọi là Dịch”. Theo nguyên tắc vật lư học Mervil Berger phát biểu: “chúng ta hăy nhớ rằng hai điện tích cùng dấu sẽ đẩy nhau, chúng chỉ hấp dẫn khi hai điện tích khác dấu”. Nói tóm kết lại, sự vật thay đổi v́ chúng chứa đựng mâu thuẫn nội tại.
Lư giải Âm – Dương dựa trên trực quan của sự sống con người và muôn loài, con người và muôn loài có sinh có tử, có sanh có diệt (nói theo Nhà Phật), Sanh và tử nối tiếp nhau, giữa sinh và tử nguồn gốc là ǵ? Đó là câu hỏi để t́m đến câu trả lời cuối cùng phải có Một Đấng Thượng Trí, Ṭan năng, Ṭan Lực. Đấng đó là ai, Dịch không nói là Thái Cực bởi v́ trên Thái Cực c̣n có Vô Cực, trên Vô Cực là ǵ? Có nhiều câu trả lời, do ngẫu nhiên hay có một Đấng Sáng Tạo. Sách không nói rơ, Dịch học không bàn tới linh hồn, kiếp trước kiếp sau, nhưng bày ra một lối sống minh triết, lấy đạo của Trời mà chỉnh nhân, nhuận nhân thuận trời.
Trời đất thay đổi, vạn vật thay đổi vậy vận mệnh của con người giữa sinh và tử là ǵ? Có thể bi quan như Ôn Như Hầu:
“Tuồng huyễn hóa bày ra đấy
Kiếp phù sinh trông thấy mà đau
Trăm năm c̣n có ǵ đâu
Chẳng qua một nấm cổ khâu xanh ŕ?”
Có thể lại cũng lạc quan để thấy rằng: “Chẳng ai giàu ba đời hoặc khó đến ba đời”, bởi v́ nhận thấy rằng: “Qua cơn mưa trời lại sáng” và cũng thấy rằng “Trời sinh voi rồi trời sinh cỏ”. Triết gia Héraclite (1766 – 1122 B.C) nhận thấy : “Người ta không bao giờ tắm hai lần trên cùng một ḍng sông”. Sự sống con người dẫu có đi qua những nẻo xuôi ngược vẫn có một ư nghĩa cao thượng và vượt trên mọi loài. Sống là điều quan trọng như Đạo Dịch nói: “Sinh rồi lại sinh”. Chỉ khác với lần sinh trước, sinh sau là ǵ th́ chưa biết nhưng chắc chắn rằng vẫn là sinh vượt trội hơn lần sinh trước.
Quan niệm cách lạc quan hay bi quan đều diễn tả hai trạng thái của quy luật của Đạo Dịch: Dịch là biến dịch: Âm – Dương đều động, theo Trung Dung: “có động th́ biến”. Dịch là bất Dịch, là theo lẽ thường hằng làm nên quy luật, Âm tiến Dương lùi, Dương Tiến Âm lùi, “Biến hóa giả, tiến thoái chi tượng dă, cương nhu giả, trú dạ chi tượng dă”. Theo quy luật thường hằng đó, người xưa phát biễu “thịnh cực tắc suy, vật cùng tắc biến”.
Từ những quy luật đó, người
Trung Hoa có quan niệm về tuần ḥan, theo một chu kỳ
ṿng tṛn, những vận hành đó quay về gốc nên theo
Văn Vương, Chu Công, Khổng Tử, Dịch học
gọi đó là “phản phục”, nghĩa là quay về gốc.
Gốc ở đây là Âm – Dương, Lăo Tử th́ xem gốc
này là “Vô”. Vấn đề quy gốc không phải là “hoài cố”,
nhưng là câu trả lời cho câu hỏi cơ bản: “Con
người từ đâu đến, và đi về đâu”.
Từ đâu đến và đi về đâu không thể lư
giải bằng triết lư, và cần phải có vai tṛ của
tôn giáo để giải thích, trả lời cho câu hỏi
này.