|
Tôn giáo trên đất Việt. |
||
|
Mảnh đất tôn giáo trên đất Việt, bàng bạc như sương như khói, sương khói không ở đâu xa, ngay trong những gia đ́nh nơi làng xóm, bên những vệ đường, nơi những gốc cổ thụ già. Khắp nơi, ở đâu, người ta cũng thấy một áng mây khói toả ra từ những nén hương nhang, như ḷng thành kính linh thiêng bao trùm tâm hồn dân Việt. Khi khởi công đi t́m nguồn gốc, ngọn ngành tâm linh trên đất Việt, Linh Mục Cadière nhận thấy rằng: “Tôn giáo người Việt, ở đây chúng tôi dùng số ít, cho thấy một cảm giác như khi lạc vào trong núi rừng Trường Sơn: Đây đó những thân cây khổng lồ, rễ ăn sâu và lan rộng không ai biết, bộ rễ ấy chịu đựng cả những tán cây thật lớn, phủ xanh một vùng bóng mát; những cành cây có khi lại sà xuống sát mặt đất lại đâm những rễ ngang dọc; các bộ dây leo nối kết những tàn cây, giữa những cây này sang cây khác, có khi chẳng biết gốc rễ từ đâu và cứ như thế kéo dài như vô tận. chen chúc nhau đủ loại loài ngấy, loài dum, chẳng biết đâu là đường đi lối vào; xuất hiện bên cạnh những gốc già nua lại là những chồi non hiếm thấy, những bông hoa kỳ diệu. có thứ hoa nở sát đất, có hoa nở chót vót trên cao, có loại hoa nở xen kẽ giữa những nhành cây; màu sắc chen lẫn giữa những gốc cây xám xịt,những màu vỏ cây rỗng mục, những cành khô, duới gốc là lớp phân thổ, thối mục, đó là phần tinh tuư, nuôi dưỡng sự sống các loài cây. Cũng vậy, tâm thức tôn giáo của người Việt trong các tầng lớp xă hội như nhựa sống nuôi dưỡng bao nhiêu tâm hồn Việt. Tâm thức tôn giáo biểu hiện trong mỗi hành vi thường ngày, qua rất nhiều cách thức khác nhau trong đời sống thực hành. Có khi tâm thức tôn giáo được biểu lộ qua những h́nh thức trang trọng, tổ chức công khai; có khi âm thầm lặng lẽ bên từng gốc cây cổ thụ, hoặc kín đáo trong những hốc đá. Lúc th́ với cung nhạc trầm nổi, lúc th́ âm thầm lặng lẽ bằng những hành vi cúi đầu. khi th́ nghiêm trang bái lạy, cung kính trong bộ áo lễ nghi; khi th́ âm thầm t́m đến vị bói toán mù loà, cô đồng, cô bóng trong hương khói huyền bí, hoặc t́m đến thầy bùa, thầy pháp, bói quẻ chân gà, xin xâm. Họ dâng hoa thơm lên chư Phật, Tam Bảo, Đức Từ Bi, nhưng họ cũng bái lạy trước những h́nh tượng nhăn nhó, thờ hổ, thờ rắn, hoặc may miệng người chết, cho xác ngậm kim, đinh, bọc lưới để tránh hiểm hoạ. Ma thuật với những thực hành kỳ quái, man dă ấy hoà trộn thành một tôn giáo huyền bí. Khó ḷng mà nghiên cứu cách tượng tận ngọn gốc của tâm linh Việt, giống như lạc vào khu rừng lớn, khó nhận biết được nguồn gốc tất cả mọi loài. Tôn giáo Việt là thế đấy, vừa có những đỉnh cao của các tôn giáo thượng đẳng, vừa có tính chất của các tôn giáo sơ khai, nguyên thuỷ”[1] Nhận định của cha Cad́ere thật chính xác, nói đến tâm linh Việt là nói đến tâm linh tôn giáo bàng bạc trong các hành vi của đời sống thường nhật, người Việt không sống xa cách thần linh, thần linh có trong đời như hơi thở cần thiết cho sự sống. Người Việt không sống xa cách sự vật, không sống xa cách với thiên nhiên, tất cả đều sống trong mức hài hoà với vạn vật, biểu hiện nếp sống quân b́nh giữa âm dương, thứ lớp như trong ngũ hành, đi đến sâu thẳm Hồng Phạm và đạt tới vô biên. Cơi vô biên v́ thế, không xa, rất gần với cuộc sống. Giống như luỹ tre vươn lên giữa những cánh đồng xanh mà không xa với đồng xanh, vươn cao lên cơi thiên mà không xa rời với đạo nhân. Khổng Tử nói: “Đạo bất viễn nhân, nhân chi vi Đạo nhi viễn nhân, bất khả dĩ vi Đạo”. Tôn giáo trên đất Việt nở rộ, không đâu nhiều nhà thờ cho bằng trên Đất Việt, mỗi gia đ́nh là một nhà thờ thu nhỏ, ở đó người Việt thực hiện niềm tin của ḿnh. Trong mỗi ngôi nhà đều có bàn thờ tiên tổ, mỗi sáng sớm hay khi khuya về vẫn đầy ắp nhang khói, ḷng thành tâm mến được biểu lộ dồi dào như rừng tre khóm trúc. Mỗi một chiếc nhang là một phần của thân tre được chẻ ra vót đều để thắp nên niềm tin mến. Người Việt sống tôn giáo của ḿnh một cách tự nhiên, không h́nh thức mà cả tấm ḷng. Nếu có thể diễn tả bằng h́nh ảnh cây tre th́ cũng cần nói, khi biết sống thẳng khi uốn ḿnh cung kính. Cho nên, để sánh ví với ḷng thành kính ấy người Phật Giáo mượn h́nh ảnh cành lá trúc rũ bóng trước Phật từ bi. Mềm mại và dễ thương biết mấy tâm hồn tôn giáo Việt. Cuộc sống người dân quê đất Việt ư thức ḿnh tuỳ thuộc vào Trời hơn ai hết, chính yếu v́ đời sống nghèo khó của họ, hằng năm hai vụ mùa, thất bát vụ nào cũng dẫn họ tới t́nh trạng đói nghèo. Làm ruộng rẫy, chủ yếu là nhờ sự cần lao, sức lao động, đầu đội trời, mặt đối nước, người ta thường nói câu thành ngữ “bán lưng cho trời” là theo ư đó. Những mảnh ruộng vừa được tưới bằng nườc từ ḍng sông vừa được tưới bằng những giọt mồ hôi, một vụ mùa nhờ ơn gió thuận mưa hoà, mới đủ sống cho đến vụ mùa kế tiếp. Đời nghèo khó v́ thế, biết cậy vào ai ngoài Trời là Đấng minh xét. Thuận đạo trời là giữ đạo nhân, người Việt biết sống uyển chuyển, khi trời thuận th́ biết sống cứng cáp như khóm tre vươn cao, những khi khốn khó biết rạp ḿnh như luỹ tre khom ḿnh trước giông băo. V́ thế, giống tre không khi nào bị bật gốc, biết hoà ḿnh với thiên nhiên là biết sống. Tính cách của người Việt từ đó trở nên hài hoà, trọng nhân nghĩa hơn cứng nhắc luật lệ, lấy việc mệnh trời là niềm an ủi: “không ai khó ba đời” và cũng chẳng ai “giàu ba đời”. Cuộc đời thăng trầm thay đổi nối tiếp nhau, hết vuông lại tṛn, hết vơi lại đầy. Giữa thăng trầm ấy t́m ư nghĩa mà sống cho nên ư nghĩa. Nếu một lần về xóm đạo quê hương, có lẽ sẽ không quên được h́nh ảnh những khóm trúc vây quanh con đường làng và dẫn vào những xóm đạo. Mến thương cả một đời ru nhẹ trong gió, mang hơi thở thầm th́ của những lời nguyện kinh, xào xạc những chiếc lá khi gió đem về theo tiếng chuông.
.L.m Giuse Hoàng Kim Toan
[1] Croyances et Pratiques Relegieuses des VietNamiens, Quyền 1, trang 1- 2. |
||