THẬP H̀NH VÀ THẬP GIÁ.
Điều quan trọng và là biểu tượng gắn liền nhất đối với người Kitô hữu là Thập Giá. Trước khi là Thập Giá Cứu Đời của Chúa Giêsu Kitô, th́ đă có thập h́nh. Tính biểu tượng và phong cách biểu trưng của thập h́nh có nhiều ư nghĩa. Từ ư nghĩa biểu tượng thập h́nh là h́nh chữ thập, đến thập h́nh là cây xử tội là những ư nghĩa khác nhau. Từ thập h́nh xử tội đến Thập Giá là giá chuộc hy sinh của Đức Giêsu Kitô, chịu chết trên thập h́nh để chuộc tội nhân loại. Vậy chúng ta hăy đi vào chiêm ngắm tứ thập h́nh đến Thập Giá.
Thập h́nh – h́nh chữ thập.
Thập h́nh - Thập giá.
Thập Giá mang h́nh Thánh Giá.
I. Thập h́nh – H́nh chữ Thập.
1. Thời gian xuất hiện: các nhà khảo cổ cho biết rằng h́nh chữ thập trở thành biểu tượng từ thời thượng cổ: Ở Ai Cập, Trung Hoa, trên đảo Crète, nơi mà người ta t́m thấy thập h́nh bằng cẩm thạch có thứ thế kỷ thứ XV trước công nguyên. Theo ḍng thời gian cây thập h́nh mang theo nhiều ư nghĩa tượng trưng, tùy theo mỗi miền, mỗi ḍng văn hóa. Đến thời Đế Quốc Roma, người ta dựng thập h́nh để treo những người tử tội và đến thời Đức Giêsu, người ta đóng đinh Đức Giêsu, để thập h́nh trở nên cây Thánh Giá.
2. Thập h́nh, chức năng định hướng: Theo G. de Champeax, h́nh chữ thập là cơ sở của mọi định hướng: “Sự định hướng tổng ḥa của con người, đ̣i hỏi ba sự ḥa hợp: sự định hướng của chủ thể, động vật với bản thân - định hướng giữa không gian và đất đai - thời gian với không gian. định hướng không gian ứng với trục Đông - Tây, được đánh dấu bằng mặt trời mọc và lặn. Định hướng thời gian với không gian theo trục quay của trái đất Nam - Bắc. Hai trục Đông – Tây và Nam - Bắc giao nhau làm nên tâm của định hướng tổng ḥa”. Theo ư nghĩa của định hướng tổng ḥa, con người ở tâm điểm của tổng ḥa ấy, có nghĩa là con người vừa là đạp chân dưới đất, vừa là hướng về trời cao: ở giữa thế gian mà “ Họ không thuộc về thế gian cũng như con đây không thuộc về thế gian” (Ga 17, 16). Con người quả là một định hướng tổng ḥa trong công tŕnh tạo dựng, sinh ra ở dưới đất nhưng lại lớn lên trong trời cao, vừa ở trong thế giới vật chất nhưng lại vừa tồn tại trong thế giới siêu việt. Con người được định hướng theo chiều ngang phối hợp với chiều dọc, để nói lên rằng con người được sinh ra không chỉ sống cho mà c̣n là sống với. Sự tương quan của chiều ngang hỗ trợ cho tương quan chiều dọc, và như vậy để con người định hướng ở trong vị trí tổng ḥa, Đức Giêsu đă dạy mà Thư Thánh Gioan nhắc lại: “Anh em thân mến, chúng ta hăy yêu thương nhau,v́ t́nh yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, th́ đă được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa” (1Ga 4, 7). Định vị ở điểm tổng ḥa này là một nguyên tắc quan trọng trong h́nh chữ thâp mang ư nghĩa định hướng. Nếu không có điểm nối kết giữa hai trục th́ thập h́nh là những thanh song song, chính v́ vậy, một giáo lư rất quan trọng trong giao điểm tổng ḥa này là: Nếu ai nói: "Tôi yêu mến Thiên Chúa" mà lại ghét anh em ḿnh, người ấy là kẻ nói dối; v́ ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, th́ không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy. Đây là điều răn mà chúng ta đă nhận được từ Người: ai yêu mến Thiên Chúa, th́ cũng yêu thương anh em ḿnh” (1Ga 4, 20 -21).
3. Thập h́nh - biểu tượng vuông tṛn:
Nếu nối các điểm của bốn cạnh của h́nh thập bằng đường thẳng, ta có h́nh vuông, nếu nối cũng bốn cạnh ấy bằng h́nh cung, ta có một ṿng tṛn. H́nh vuông và tṛn có cùng một tâm điểm, và h́nh vuông nằm nội tiếp trong h́nh tṛn. Theo G. de Champeax gọi đó là “Hệ biểu tượng Trung Hoa, mà tâm điểm ấy là ngă tư trung tâm của thế giới”. Một biểu tượng vuông tṛn hết sức lư thú khi đọc ra rằng h́nh chữ thập là biểu tượng giao ḥa giữa trời và đất, giữa siêu thời gian và thời gian, giữa hạ giới và thượng giới. Con người vẫn là trọng tâm của điểm giao ḥa quan trọng ấy, theo quan niệm của người Việt: “Không trời, người c̣n ở được với ai?”. Chính v́ thế mà ṿng tṛn bao bọc khối vuông, để rồi trong tâm thức b́nh dân nhất người ta vẫn có thể tin rằng c̣n có trời soi xét.
Để gọi là giao lộ quan trọng của tâm điểm, người Trung Hoa cũng tin rằng giữa vuông và tṛn ấy là sinh hóa muôn loài, và sự hướng về vừa mang sức ly tâm vừa mang tính quy tâm làm thành động lực cho quy luật biến dịch dựa trên nguyên tắc Âm - Dương.
Ở tâm điểm của Vuông Tṛn, con người là kết tinh của trời và của đất, nên con người cũng mang trong ḿnh một sứ mệnh cao cả: Không chỉ sống cho thế trần mà c̣n sống cho thiên quốc, ở dưới đất mà không thuộc về đất. Con người ở tâm điểm của vuông tṛn nên con người vượt trên hết mọi loại được tạo dựng. Con người mang trong thân xác bụi đất của ḿnh một thần thiêng. Dứt khỏi tâm điểm của vuông tṛn là con người tự hủy hoại chính ḿnh để đi t́m sự hư vong. Đất và trời giao ḥa ở tâm điểm của cung tṛn và vuông để cho con người được sống, đó cũng chính là sứ điệp mà người Trung Hoa tin rằng: “thiên thời - địa lợi – nhân ḥa” kết thành bộ ba Tam Tài, con người t́m thấy hạnh phúc.
4. Thập h́nh - Biểu tượng của hội tụ và đối lực: Theo thánh Martin Giám Mục ở Tours (315 – 397): “Thập h́nh là biểu tượng của tâm, của lửa, của trí và của lư”. Điểm hội tụ được kết thành bởi sự phân chia của h́nh thập giữa ṿng tṛn làm nên bốn không gian giữa tṛn – vuông. Là điểm hội tụ của các hướng và các mặt đối lập, vừa phân chia và vừa nối kết. Con người, v́ thế, trong trần thế vừa mang tính phân chia vừa mang tính nối kết để làm nên mối hội tụ: “Hợp nhất trong sự đa dạng”. Theo cách nh́n này, lời nguyện Hiệp Nhất của Chúa Giêsu trong Lời nguyện Hiến Tế có vai tṛ rất đặc biệt: “Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng c̣n cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đă sai con. Phần con, con đă ban cho họ vinh quang mà Cha đă ban cho con, để họ được nên một như chúng ta là một: Con ở trong họ và Cha ở trong con, để họ được hoàn toàn nên một; như vậy, thế gian sẽ nhận biết là chính Cha đă sai con và đă yêu thương họ như đă yêu thương con.” (Ga 17, 20 -23). Nên Một là một lời cầu nguyện quan trọng v́ chúng ta vẫn là những con người đang bị xâu xé, bị giằng co bởi một đối lực khác là: “Thế gian đă ghét họ, v́ họ không thuộc về thế gian, cũng như con đây không thuộc về thế gian” (Ga 17, 14).
Trở lực bao giờ cũng có, c̣n bao lâu sống dưới thế trần là c̣n chịu sự giằng co, c̣n mang nặng gánh của kiếp nhân sinh như Thánh Phaolô cảm nhận trong cuộc chiến đấu nội tâm “ Vẫn biết rằng Lề Luật là bởi Thần Khí, nhưng tôi th́ lại mang tính xác thịt, bị bán làm tôi cho tội lỗi. Thật vậy, tôi làm ǵ tôi cũng chẳng hiểu: v́ điều tôi muốn, th́ tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, th́ tôi lại cứ làm. Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn, th́ tức là tôi đồng ư với Lề Luật và nhận rằng Lề Luật là tốt. Vậy thật ra không c̣n phải là chính tôi làm điều đó, nhưng là tội vẫn ở trong tôi. Tôi biết rằng sự thiện không ở trong tôi, nghĩa là trong xác thịt tôi. Thật vậy, muốn sự thiện th́ tôi có thể muốn, nhưng làm th́ không. Sự thiện tôi muốn th́ tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm. Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn, th́ không c̣n phải là chính tôi làm điều đó, nhưng là tội vẫn ở trong tôi. Bởi đó tôi khám phá ra luật này: khi tôi muốn làm sự thiện th́ lại thấy sự ác xuất hiện ngay. Theo con người nội tâm, tôi vui thích v́ luật của Thiên Chúa; nhưng trong các chi thể của tôi, tôi lại thấy một luật khác: luật này chiến đấu chống lại luật của lư trí và giam hăm tôi trong luật của tội là luật vẫn nằm sẵn trong các chi thể tôi.
Tôi thật là một người khốn nạn! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này? Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta!” (Roma 7, 14 – 25).
Trở lực luôn có nhưng không bao giờ triệt tiêu hấp lực và hấp lực vẫn luôn hằng có và hằng chiến thắng, chỉ một việc hăy buông ḿnh cho ân sủng của Thiên Chúa hành động, bằng đời sống cầu nguyện và nỗ lực chạy về tâm điểm của hội tụ, để được làm mới lại trong Đức Giêsu. Theo ư nghĩa này, h́nh chữ thập đứng thẳng và ở giữa c̣n là Trục thế giới, như quả địa cầu có thấy cắm trên đó h́nh chữ thập, một biểu tượng mà các nhà luyện đan xem là biểu tượng cho chén nung tái sinh. Sinh lại mỗi ngày ở trong Đức Giêsu là tâm điểm của vũ ḥan để được khuôn đúc lại ở trong Ngài, đó là ư nghĩa thập h́nh trục tâm của người Kitô hữu.
Tâm điểm của ṿng tṛn và vuông c̣n được mô tả như tâm của chiếc bánh xe lịch sử. Cách đây không lâu, trên truyền h́nh người ta c̣n thấy, chiếc Trống Đồng biểu tượng cho văn hóa Việt Nam xoay tṛn, và đều, là biểu tượng cho nền văn hóa sống động, chuyển lăn về phía trước, mang theo ṿng xoay ấy một lực ly tâm và một lực quy tâm, để nói đến sự chuyển biến có đào thải và tiếp nhận của nền văn hóa, để bản sắc của dân tộc luôn được duy tŕ và phát triển giữa các nền văn hóa. Theo ḍng văn hóa Việt, khối Tṛn Vuông được biểu thị Trời Cha - Đất Mẹ, Trời Cha được đồng nhất với sự phong nhiêu chảy trôi vào Đất Mẹ làm sản sinh vạn vật. Niềm tin dân dă này quan niệm một hệ thống dọc và ngang: “Ơn trời mưa nắng thuận ḥa”, cũng mang h́nh chữ thập, chiều dọc ngang với điều bảo răn: “Trên thuận dưới ḥa” để đạt được đạo nhân và đạo trời.
5. Thập h́nh - Biểu tượng sự sống thần linh và vĩnh hằng: Theo Champdor Albert th́ ở Ai Cập: “H́nh chữ thập có ṿng quai ở đầu, hay bị lẫn lộn với cái nút của Isis, là biểu tượng hằng triệu năm trong cuộc sống tương lai. Dấu chỉ này được tạo bởi một ṿng h́nh tṛn hay bầu dục, ở dưới lơ lửng vừa giống như h́nh chữ T (Tau) Hy Lạp vừa giống như nút băng. Đó là một trong những biểu tượng của thần Isis, như đă thấy trong tay có rất nhiều các thiên linh, biểu tượng đời sống thần linh và vĩnh hằng. Trong ṿng tay con người ôm ấp thần linh, biểu hiện khát khao cuộc sống vĩnh hằng hạnh phúc, ở một nơi không c̣n đau khổ, khóc than. Ṿng quai biểu thị một ḍng thời gian không khởi đầu không kết thúc, một biểu thị vĩnh hằng”. Theo ư nghĩa này biểu tượng thập h́nh với nhăn quan người Kitô hữu, có thể đọc thấy ư nghĩa của lời Thánh Ausgustin trong cuốn Tự Thuật: “Lạy Chúa, con khát khao Ngài cho đến khi được ở trong Ngài”, bởi v́ con người được dựng nên từ Đấng Vĩnh Hằng, mang đầy giới hạn, luôn khao khát được tham dự vào sự vĩnh hằng của Đấng đă dựng nên ḿnh. Khát khao ấy làm nên ṿng quai của những khắc khoải đêm ngày, nung nấu ư chí của nhân loại từ nguyên thủy cho đến tận cùng để được nên Một.
Theo Paul Pierret, đây cũng là biểu hiện sự che chở của thần linh. Có rất nhiều loại dấu đeo cổ h́nh chữ T hay ṿng tṛn, bằng đá rắn, bằng bột nhào thủy tinh hoặc bằng gỗ sung Ai Cập mạ vàng, thông dụng nhất là bằng ngọc thách anh hoặc đá thạch anh màu đỏ mờ đục, mà người ta đeo trên cổ của các xác ướp. Đặc biệt, điều làm chú ư hơn cả, người ta trích ở chương 46 sách của Những Người Chết, được khắc vào chiếc dấu đeo cổ để cầu mong sự bảo vệ của nữ thần Isis”. Sống cần thần linh che chở mà chết cũng cần thần linh che chở, như vậy con người tự nhận ra ḿnh quá bé nhỏ giữa ṭan vũ. Một hạt bụi hóa kiếp nhưng lớn lao hơn mọi thể sinh linh và nhận ra con người có mang chiều kích vô biên của Đấng Tạo Thành nên nó: “Ngắm tầng trời tay Chúa sáng tạo, muôn trăng sao Chúa đă an bài, th́ con người là chi, mà Chúa cần nhớ đến, phàm nhân là ǵ, mà Chúa phải bận tâm?” (Tv 8, 4 - 5). Con người được đặt vào tâm điểm của sáng tạo, mà tâm điểm so với ṭan thể luôn là bé nhỏ, nhưng phận bé nhỏ được chiếu cố, được yêu thương, nên con ngừơi cũng mang một chiều kích siêu việt vượt trên hết mọi loài được tạo dựng.
II. Thập h́nh - Thập Giá.
6. Thập h́nh - biểu tượng sự phán xét: Tại Châu Phi, thập h́nh mang những nét đơn sơ và thêm những hoa văn h́nh lá sắn, cũng biểu trưng cho tổng thể vũ trụ, mang ư nghĩa về vũ trụ quan như các ḍng văn hóa khác. Theo E. Mveng, h́nh thập ở người Bamoun c̣n có ư nghĩa: “biểu thị đường sống và đường chết, một h́nh ảnh về thân phận của con người”. Theo cách nói của Bantou, th́ trục thẳng đứng của cây thập tự ấy nối kết với đất, nghĩa là nối với nơi cư trú của những người chết. tâm điểm của thập h́nh là nơi cư ngụ của Đấng Tối Thượng, ở bốn cánh là bốn vị thần siêu đẳng là trợ tá của Đấng Tối Thượng. Trục ngang có sự phân chia từ giao điểm, về phía Đông là thế giới của thần thiện, Phía Tây là thuộc thế giới thần ác. Nơi tâm điểm là ngă tư giải ngân hà, nơi mà các vong linh sau khi chết sẽ được phán xử, để rồi được chuyển qua trái hoặc qua phải (Tây hay Đông) tùy theo công đức của họ.
Là cây phán xét giữa thiện và ác nên trong lịch sử cũng đă dùng cây thập h́nh ấy là nơi treo tử tội. Lạm dụng quyền bính, con người loại trừ Đấng Tối Thượng, để thay quyền Đấng Tối Thượng, con người phán xét con người, mà gọi là thập giá hay có khi c̣n gọi là thập ác. Đó là dấu chứng của một bi kịch lịch sử đă rời xa tâm điểm của giao điểm trời và đất.
7. Chữ Thập Ngoặc: là một biểu tượng phổ biến và cổ xưa tại nhiều vùng từ Viễn Á tới Trung Mỹ, vượt qua Mông Cổ, Ấn Độ và Bắc Âu. Chữ thập ngoặc là sự biến thiên của h́nh chữ thập quay chung quanh một tâm cố định, nó biểu hiện tính chất tái sinh bất tận, phục hồi và tiến triển của sự sống đến vô biên.
Con người đă không ḥan ṭan dùng ư nghĩa của biểu tượng này. Con người loại trừ Thiên Chúa để rồi tự hành quyết lẫn nhau. Chữ thập ngoặc biến thành ư nghĩa biểu tượng của quyền lực thế tục, điều này cho biết tính chất biểu lộ quyền năng lịch sử từ thời Charlemagne cho đến Hitler. Chiều quay của chữ thập ngoặc là biểu lộ cách nh́n của từng cá nhân ứng dụng nó. Đối với Charlemagne, chiều quay theo chiều thuận của thiên văn hay vũ trụ nghĩa là ngược chiều quay đồng hồ, th́ ư nghĩa của nó là gắn với một quyền lực siêu thực tại. Nếu chọn chiều thuận theo chiều kim đồng hồ như của Hitler là quy về độc tài cá nhân, là muốn bắt cả cái vô tận và cái thiêng vào trong cái nhất thời và phàm tục. Ước muốn bị phá vỡ và cái tự sát cuối cùng của Hitler là câu trả lời cho tham vọng điên cuồng của ông.
Lịch sử về quyền lực chọn theo chiều của Hitler, lịch sử đă không biết bao lần chứng kiến. Trong vụ án của Chúa Giêsu, một con người nhân danh công lư đă phủi tay trước trách nhiệm khi kết án chân lư, để rồi chính Philatô cũng ngu ngơ về điều ḿnh kết án: “Chân Lư là ǵ?” (Ga 18, 38). Quyền lực là một đ̣n chí mạng cho người thao túng nó.
8. Thập h́nh và thập giá đời: Biểu h́nh của đau khổ. Đau khổ là một điều đáng tiếc không đáng có trong lịch sử con người, thế nhưng tội đă đi vào trong thế nhân, đau khổ là thực tại không thể né tránh.
Những tiếng ca thán trong đau khổ vẫnvang lên tới trời cao. Biết bao đau khổ của từng ngày: Tang chế - thất bại – thiên tai - bệnh tật, đau khổ nội tâm – đau khổ đến từ bạo lực – chuyên chế…Những tiếng kêu la, những lời ai óan, những đêm thức trắng, những ngày lam lũ, những thân phận tủi nhục, ngục tù. Hàng ngàn, hàng triệu cách đau khổ đang từng ngày dày xéo trên thân phận.
Đau khổ như một hiển nhiên khó chịu, con người có khi cam phận, có khi vùng chỗi dậy đi t́m nguyên nhân để mong thoát khỏi. phải chăng sự xích mích giữa các thần, hay những nhị nguyên để giải thích đau khổ. Thời lưu đày Babylon, người Do Thái có khi bị cám dỗ nghĩ rằng, Thiên Chúa của họ đă thua vị thần nào đó mạnh mẽ hơn. Thiên Chúa vẫn im lặng không lư giải. Người không tin vào Thiên Chúa nghĩ rằng: “Không có Thiên Chúa hiện diện” (Tv 10, 4), hoặc là “Không thể hiểu biết” (Tv 73, 11), và có người đă khuyên nhủ người khác “Hăy nguyền rủa Thượng Đế đi” (Gb 2, 9). Thiên Chúa vẫn im lặng! và sự im lặng của màu nhiệm Thập Giá.
Đau khổ từ đâu đến: Từ nguyên nhân thiên tai - từ nguyên nhân đổ vỡ các mối tương quan - từ các đối lực - Từ tội lỗi nguyên tổ. Không lư giải hết những nguyên nhân đau khổ, con người lại chứng kiến những cái chết của người công chính - những trẻ thơ - những người vô tội, để hoài nghi, trong thế gian này, công lư đă thất bại (Hab 1, 2 - 4; Mal 2, 17…)
Không lư giải được đau khổ, tiền nhân đă liệt nó vào trong mầu nhiệm. Chính v́ là mầu nhiệm, không lư giải được nguyên nhân, tiền nhân lại đặt vào đó những ư nghĩa: Sự thanh luyện (Gr 9, 6), sự giáo dục (Đnl 8, 5), sự sửa phạt bởi ḷng nhân lành (2Mac 6, 12 – 17; 7, 31 – 38). Từ những ư nghĩa tích cực của đau khổ người công chính nhận ra rằng: Đau khổ là một mạc khải về ư định của Thiên Chúa (Gb 42, 1-6), từ đó nhận ra sự thử thách của Thiên Chúa (Gr 15, 10 – 19).
Đỉnh điểm của ư nghĩa đau khổ là có giá trị cứu độ. H́nh thành từ kinh nghiệm của những người công chính và t́m gặp trong một người mang lấy thân phận của “người tôi trung đau khổ” (Is 52), người tôi trung đau khổ ấy lại là một người vô tội, đó là điều shock nhất của lịch sử con người. Và từ đây, con người t́m thấy giá trị của những đau khổ, cũng từ đó con người hiến dâng mạng sống ḿnh, chấp nhận đau khổ như của lễ, ḥa ḿnh với tội nhân để mang lấy tội lỗi của con người.
9. Thập Giá mang h́nh cứu đời: H́nh tượng cây thập giá thấy nhiều trong h́nh ảnh thiên nhiên, như con người đứng giang tay giữa trời, cánh chim đang bay, ngôi sao nh́n từ dưới đất lên bầu trời, những tia sáng…Cây thập h́nh trong Kinh Thánh c̣n biểu hiện là cây đời (St 2, 9), là cây Minh Triết (Cn 3, 18), là gỗ đóng con tàu Noe, là cây gậy của Moise đấp đầu con rắn, là cây treo con rắn đồng giữa hoang mạc, sau này biểu tượng y khoa lấy h́nh cây thâp giá treo con rắn đồng diễn nghĩa.
Là cây đời với ư nghĩa mang lại sự sống là h́nh ảnh tiên báo cây Thánh Giá Cứu Chuộc sau này. Cây sự sống là biểu tượng thông dụng trong huyền thoại Mesopotamis, ở Sáng Thế Kư tường thuật trong vườn địa đàng có cây sự sống nguyên thủy mà trái của nó mang lại sự sống bất tử. (Stk 2, 9). Cũng trong đó, với cây sự sống, sự khôn ngoan giả dối của con người cũng dựng cho ḿnh một cây hiểu biết điều lành và điều dữ, Sách Sáng Thế gọi là “Cây trái Cấm” St 2, 16), con người đă ăn nó và hậu quả là biết ḿnh trần truồng. Sau khi con người ăn cây trái cấm, Thiên Chúa hứa ban cho họ một cây đời khác gọi là cây Kỳ diệu cung cấp cho con người thực phẩm và thuốc men (Ez 47, 12).
Cây sự sống là cây mang theo ư nghĩa tự nhiên là cây tái sinh, cây tái sinh theo mùa trút lá và mọc lá mới. Cây tái sinh theo tự nhiên là cây đâm rễ vào đất, mọc trên đất giữa trời và đất, ngọn luôn hướng về trời cao. Với ba phần của cây tái sinh, được diển tả cách thiết thực nhất điều liên quan đến bộ ba: Trời - Người - Đất, bộ ba trong gia đ́nh biểu hiện Cha - Mẹ - Con, trong lịch sử biểu hiện bộ ba Không gian - Thời gian – Con người. Trên Trống Đồng Đông Sơn, bộ ba biểu hiện Chim – hươu - người. Các quan hệ với những chiều kích khác nhau, tái sinh có nghĩa là làm mới lại luôn măi các mối tương quan. Trong bài giảng vào ngày Lễ Phục Sinh, Henry de Lubac đă gọi cây tái sinh tương đồng với cây Thánh Giá bằng những lời tán tụng: “Vật đỡ vững chắc của Tạo Hóa, mối liên kết của vạn vật, chỗ dựa cho cả trái đất và con người cư trú, sự đan thoa vũ trụ mang tất cả tính hỗn hợp của bản chất con người. Được an định bằng những chiếc đinh vô h́nh của Thánh Thần để tô điểm cho ư chí tối thượng; đỉnh đầu chạm trời, chân đạp đất và trong không gian ở giữa, ôm cả khí quyển bằng những cánh tay vô biên để đón nhận tất cả và làm mới lại tất cả”.
Là cây đời, cây này c̣n biểu trưng là Cây Nước Thiên Chúa, h́nh ảnh này không dùng lại biểu trưng của cây vũ trụ của Đông Phương mà thích ứng cây vũ trụ ấy biểu trưng cho cây tuyệt diệu: Đâm rễ xuống tận âm phủ, mà mọc vươn tới trời cao, tàn lá che khắp vũ trụ, mọi chim chóc và thú vật. Cây của ḷng kiêu căng sẽ bị phá đổ (Ez 31, 1 – 9) để thay vào đó cây bám rễ từ ḷng khiêm nhường, cành lá sẽ là cành lá cứu độ sum xuê (Mt 13, 31). Linh mục Varillon th́ cho rằng bản chất cốt yếu của Thiên Chúa là sự Khiêm Nhường, v́ T́nh Yêu đích thực bao giờ cũng Khiêm Nhường. Khiêm nhừơng cho đến nỗi bằng ḷng chịu chết và chết trên cây Thập Tự và đó cũng là màu nhiệm tự hạ mà Thánh Phaolô nói đến.
10. Cây sự chết và sự sống: Cây Thập giá mà ở trong đó biểu hiện cả hai chiều kích là cây khổ nạn và là cây cứu rỗi, hai chiều kich đối lập trong một cây, để rồi “per crucem ad lucem”, trở thành cây đặc biệt nhất của các loại cây. Cây thập giá có thể trở nên dấu chỉ của sự chúc dữ khi người ta dùng nó như một thập giá cho kẻ bị án tử, cây mang tới cái chết tủi nhục (Gios 8, 29). Trong thời gian xuất hành của dân Do Thái dấu h́nh chữ thập bằng máu chiên non bôi trên cửa là dấu chỉ mà sự chết không ập đến trong đêm tru diệt (Xh 12, 23). Tính biểu trưng cây sự chết được treo lên đó con rắn đồng lại trở thành cây mang sự sống, kết hợp hai yếu tố được phục hồi. Một yếu tố là dụng cụ xử tử, nghĩa là cây thập giá, một khác nữa là con rắn tượng trưng cho thần chết. Điều này muốn loan báo một ư nghĩa quan trọng: Sự Sống cuối cùng sẽ chiến thắng mọi sự dữ mà đỉnh cao của sự dữ là sự chết. Thần Tử bị đánh bại ngay trên phần đất của chúng: “Tử thần đă bị chôn vùi. Đây giờ chiến thắng! Hỡi tử thần, đâu là chiến thắng của ngươi? Hỡi tử thần, đâu là nọc độc của ngươi?” (1Cor 15, 55). Tử thần bị đánh bại trên cây thập giá đời, người Kitô hữu cũng được mời gọi Hăy vác Thập Giá ḿnh: "Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính ḿnh, vác thập giá ḿnh mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống ḿnh, th́ sẽ mất; c̣n ai liều mất mạng sống ḿnh v́ Thầy, th́ sẽ t́m được mạng sống ấy” (Mt 16, 24 – 25). Thập giá đời được đồng hóa với cuộc sống của Đức Giêsu, vác thập giá ḿnh có nghĩa là rập khuôn đời sống của ḿnh vào đời sống của Đức Giêsu.
III. Thập h́nh mang h́nh Thánh Giá.
11. Thánh Giá Biểu lộ Khởi nguyên và Cùng Tận:
Sức mạnh niềm tin của Giáo Hội Sơ Khai bộc lộ rơ nét trong Thánh Giá mà M. Didron đă ghi lại trong cuốn sách Histoire de Dieu: “Con dấu được khắc như một thánh giá h́nh chữ T (Tau), chữ X chi vắt chéo cán chữ T tṛn ra phía trên làm thành chữ P (rho). Tên của Chúa Kitô và cây thập tự được thâu tóm bằng những đường nét ấy. Chúa Giêsu Kitô được viết là Iésous Christos, Con Thiên Chúa là khởi nguyên và là cùng tận, nghĩa là Alpha và là Omega, kư hiệu đầu tiên và cuối cùng của trí khôn và tâm hồn con người, nằm cạnh cây Thánh Giá ở bên phải và bên trái. Thánh giá chiến thắng Satan, con rắn xưa kia, v́ thế h́nh con rắn bao quanh và bị thắt lại ở chân Thánh Giá. Kẻ thù của loài người này luôn t́m cách tác hại linh hồn con người được biểu h́nh con chim bồ câu, dù bồ câu bị đe dọa rất dữ, mắt nó luôn ngưỡng mộ nh́n về phía Thánh Giá, là nguồn sức mạnh của nó, cứu nó khỏi nọc độc của Satan. Từ Salus được kẻ dưới chân đế của Thánh Giá và hai con bồ câu là tiếng hát khải ḥan ca của những người đă chiến thắng tử thần đang ca tụng kỳ công cứu độ của Chúa và ca ngợi Thánh Giá”.
Trong đêm Vọng Phục Sinh, là Đêm của mọi Đêm, Cây Nến Phục Sinh là tâm điểm của cử hành Phụng Vụ, Cây Nến Phục Sinh đó biểu trưng là Đức Giêsu Kitô, Ngài đă ra khỏi mồ (tối tăm), Ngài đă chiến thắng thần chết, và trở thành Nguồn Ánh Sáng, Sự Sống cho nhân loại. Để đánh mốc thời gian lịch sử cứu độ, trong đêm ấy, linh mục chủ tế sẽ khắc ghi trên nến với những dấu chỉ sau:
“Đức Kitô là Một, (vẽ đường dọc)
Hôm qua cũng như hôm nay, (Vẽ đường ngang)
Là Alpha và là Omega, (Viết chữ Alpha trên cây Thánh Giá)
Nghĩa là Khởi nguyên và tận cùng, (Viết chữ Omega ở phía dưới Thánh Giá)
Người làm chủ thời gian, (Viết số đầu của năm đó bên góc trái phía trên Thánh Giá) .
Và muôn thế hệ, (Viết số thứ hai của năm nơi góc phải phía trên Thánh Giá)
Vạn Tuế Đức Kitô, Đấng vinh hiển quyền năng, (Viết số thứ ba của năm góc trái phía dưới Thánh Giá).
Vạn vạn tuế. Amen, (Viết số thứ tư của năm nơi góc trái phía dưới Thánh Giá).
Với năm hạt hương biểu thị năm dấu đanh của Chúa Giêsu khổ nạn được gắn trên cây nến Phục Sinh, gắn trên mỗi góc của Thánh Giá, vừa gắn vừa đọc:
V́ năm vết thương
Chí thánh và vinh hiển.
Xin Chúa Kitô
Ǵn giữ
Và bảo vệ chúng ta.” (Sách Lễ Roma).
12. Thánh giá biểu trưng trục thế giới:
H́nh Thánh Giá viết trên Cây Nến Đêm Vọng Phục Sinh, có ư nghĩa thâu họp vạn vật, mang ư nghĩa vũ trụ. Thánh Irénée viết: “Ngài đă đến dưới dạng hữu h́nh với những ǵ thuộc về Ngài, Ngài đă trở thành xác thịt và xác thịt ấy đă được treo lên cây Thập tự để bằng cách ấy thâu họp vào ḿnh cả vũ trụ” và cũng theo Irénée thâu họp để biến đổi (tái sinh): “Con Thiên Chúa làm người để con người trở thành con cái Thiên Chúa”. Như vậy, cách nào cũng để nói, Thánh Giá trở thành trục thế giới, thánh Cyrille ở Jérusalem viết: Chúa Trời đă dang hai tay trên cây Thập Tự để ôm lấy bờ cơi Vũ trụ và v́ vậy núi Golgotha là trục thế giới”. Trên trục vũ trụ ấy có treo lên một người Con của Thiên Chúa, Thánh Phaolô th́ diễn tả trục này như sau: “Đó là đưa thời gian tới hồi viên măn là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lănh là Đức Ki-tô” (Ep 1, 10). Thánh Grégoire Nysee nói thánh giá như dấu ấn vũ trụ. Lactance th́ viết: “Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô khi ôm khổ nạn của ḿnh đă giang tay ôm lấy h́nh cầu trái đất”. Diễn giải về trục thế giới, điều này liên quan tới nhiều h́nh thức biểu tượng của cây trụ trời. Cây trục vũ trụ được gọi có nghĩa là xung quanh trục ấy biểu lộ những xoay vần của loài thọ tạo, liên kết ṭan thể vũ trụ vào trong cây truc trung tâm. Cây trục nối giữa trời và đất, biểu trưng trong cây Thánh Giá c̣n mang theo ư nghĩa của Cứu Độ, đó là trung tâm điểm nối kết giữa trời và đất bằng sự giao ḥa. Sự rạn nứt của cây trục thế giới đă từng bị tội của Adam tác động vào, nay được làm mới lại trong một Adam mới là Đức Giêsu Kitô. Khi người ta ghi dấu năm cứu độ chung quanh trục cây Thánh Giá, người ta cũng ghi khắc vào đó cả khối t́nh tri ân của những năm hưởng nhờ hồng ân cứu độ trong lịch sử thời gian. Về không gian th́ trục vũ trụ nối trời với đất. Về mặt thời gian cây trục là điểm thâu họp lịch sử. Hai chiều kích của Thánh Gía biểu hiện bao gồm hai chiều kích ấy. Đức Kitô là trung tâm điểm của không gian và thời gian.
Là Trục của thế giới, mà trung tâm điểm ấy là Đức Giêsu Kitô, nếu nh́n theo chiều kích cánh chung, thế giới nhân loại thời gian sau cùng hết, sẽ chịu sự phân chia, bên tả hoặc bên hữu. Thời điểm phân chia tả hữu, gọi là thời gian của sự phán xét. Sự phán xét cuối cùng của mọi người sẽ trải qua. Như vậy, trục c̣n có nghĩa là mốc tuyển chọn, những người được tuyển chọn và những người tự ḿnh đánh rơi. Thánh Phaolô nh́n trục này như sự phân chia Lề Luật và Đức Tin, phân chia tâm hồn con người thành hai phần, nhục thể và Thần Khí, để rồi cho thấy sự thống nhất của phân chia là việc hóan cải, tái sinh, công chính hóa lề luật, nhờ vào niềm tin cuộc khổ nạn của Đức Giêsu trên Thập Giá.
Là trục của thế giới, nếu nh́n theo chiều kích cánh chung, c̣n thấy trục biểu trưng là chiếc thang, một chiếc thang đưa con người đi lên tham dự vào đời sống của Thiên Chúa. Một chiếc thang để đất trời không c̣n xa nhau. Chiếc thang nhiệm màu mà thánh Nữ Perpétue thấy trong ngày chịu tử đạo: “Tôi nh́n thấy một cái thang bằng đồng thanh, cao khác thường, vươn tới tận trời, nhưng hẹp tới mức chỉ có thể đi lên từng người một: Hai bên thang tua tủa các khí giới: Kiếm, giáo, móc câu, gươm, như vậy mà nếu người nào lên mà lơ đăng, không chú ư nh́n lên trên cao, sẽ bị tan nát thịt da, để lại những mảng thịt mắc vào những khí giới đó. Và bên dưới cái thang có một con rồng to lớn dị thường, nằm đó chăng bẫy những ai đạp chân lên thang, làm cho họ khiếp sợ không dám trèo lên. C̣n tôi, khi tôi đặt chân lên trên bậc thang thứ nhất, tôi đă đạp lên đầu con rồng đó, thé là tôi đi lên được và nh́n thấy một khu vườn rộng mênh mông”. Biểu h́nh chiếc thang của ư nghĩa cây trục thế giới, có những bậc chỉ nhất thời, đó là những bậc của thử thách, niềm an b́nh sẽ xuất hiện khi bước lên bậc thang thứ nhất, và cứ thế theo từng bậc niềm an b́nh sẽ được gia tăng cho đến khi ḥan ṭan ở trên đỉnh thang. Muốn đi lên cao, cần rũ bỏ, rũ bỏ làm cho nhẹ nhàng thanh thóat trên đường đi lên. Đó cũng là thời gian dành cho việc cầu nguyện và ăn chay thực thi đức ái để trút bỏ mỗi ngày trong cuộc sống. Mùa chay có cao điểm là Thánh Giá cho nên cũng là mùa luyện tập trút bỏ để lên cao và được làm mới lại trong Đức Giêsu Kitô. Chiếc thang biểu tượng cho sự thăng thiên, đường lên trời chỉ có thể đi lên nếu tháp nhập vào Đức Giêsu Kitô. Do đó, khi Đức Giêsu Kitô được biểu trưng bằng cây trục thế giới th́ mọi người chỉ có thể : “Nhờ Đức Kitô, Trong Đức Kitô và với Đức kitô”, chúng ta được ḥan thành trong Ngài.
13. Thánh Giá, nguồn ơn cứu rỗi:
“O Crux, spes unica”, Thánh Giá, niềm hy vọng duy nhất, biểu trưng nguồn ơn cứu rỗi, suối nguồn nhân ái tuôn trào từ cạnh sườn Đức Giêsu. Cây Thánh Giá được biểu trưng sự vinh thắng của Chúa Giêsu Kitô, biểu trưng công cuộc cứu độ của Thiên Chúa, biểu trưng chính cuộc đời của Con Thiên Chúa xuống thế làm người. Nếu Thập Giá là sự ô nhục của con người, là sự điên rồ, thứ khổ h́nh dành riêng cho nô lệ, thứ khổ h́nh không những mang lại cái chết mà c̣n mang cả sự hổ thẹn, sự chế nhạo, sự khinh khi, th́ chính ở những điểm tột cùng của nhân loại ấy, Thiên Chúa đă mang lấy nó trong Đức Giêsu để đóng đinh vào Thập Giá, ḥan trả cho con người những giá trị của khổ đau, là câu trả lời cho con người về những đau khổ phải chịu, là cớ vấp phạm cho những ai tẩy trừ. Thánh Phaolô tuyên tín: “Đức Kitô đă chết v́ tội chúng ta theo lời Thánh Kinh” (1Cor 15, 3). Đó là một bằng chứng mở đầu cho những suy tư: Thiên Chúa Ṭan Năng biểu lộ trong một Con Người tử tội – Thiên Chúa là Đấng Quyền Năng biểu lộ trong một Con Người Đón Nhận Và Tha Thứ - Thiên Chúa là Đấng Siêu Việt biểu lộ nơi Con Người chịu treo trên Thập Giá – Thiên Chúa là Chân Lư chịu sự xét đóan của con người cầm nắm công lư…
Hai chiều kích đối nghịch trong Thánh Giá nguồn ơn cứu rỗi, một mặt là tội lỗi, xấu xa của con người, mặt khác sự vô tội, sự thánh thiện của Thiên Chúa. Tội lỗi được thứ tha, xấu xa được hóan cải, đó là chiều kích cứu rỗi của Thánh Giá. Trong h́nh thức Thánh Giá, người ta phân biệt cây Thánh Giá Đức Giêsu khổ nạn và Cây Thánh Giá vinh quang. Cây Thánh Giá Vinh Quang theo nghĩa cánh chung là cây Thánh Giá sẽ xuất hiện trước khi Chúa Giêsu quang lâm, biểu trưng cho Con Người - Đức Kitô Phục Sinh xuất hiện trong vinh quang. Thánh Giá Phục Sinh được treo lên thành ngang một giải vải, có thể là tấm vải liệm, biểu thị Đức Giêsu đă sống lại, M. Didron nói Đây không là một cây như ở khổ nạn, mà là một chiếc gậy. Thánh Bonaventura đồng hóa Cây Thánh Giá với cây đời: “Thánh Giá là cây ṭan hảo, được thánh hóa bởi Máu Chúa Kitô, mang đầy trái thơm ngon”.
Dấu Thánh Giá người Kitô hữu thường làm dấu có ư nghĩa: Được tháp nhập vào Thập Giá của Đức kitô, người Tín Hữu được biến đổi nhờ Máu của Người, nhờ sự chết của Đức Kitô, để sống lại trong “Nhân Danh Chúa Cha Chúa Con và Chúa Thánh Thần”. Như vậy, mỗi khi làm dấu, người Kitô hữu ư thức rằng cuộc đời của ḿnh cần được ơn cứu rỗi, cần được ḷng Thiên Chúa xót thương, cần được Thiên Chúa làm mới lại trong từng phút giây của cuộc sống. Cứu rỗi là đường thẳng đi lên nhưng không chỉ một ḿnh nhưng c̣n là cùng với anh chị em, cùng với muôn loài được tạo dựng, cho nên cũng cần được góp phần hy sinh mỗi ngày, cũng cần được hiến lễ mỗi ngày, để trong Đức Kitô, công cuộc cứu rỗi được ḥan tất.
Tôi cảm thấy sung sướng khi được làm dấu Thánh Giá, bởi v́ qua đó tôi được tham dự vào trong công tŕnh cứu độ của Chúa Giêsu, cho dẫu chính tôi mang đầy bất xứng và yếu hèn. Nhờ Người, Trong Người, Với Người, tôi đang được biến đổi cùng với muôn loài được dựng nên.
14. Bốn loại h́nh Thánh Giá:
Cây Thánh Giá h́nh chữ T, tượng trưng cho con rắn bị đóng cọc, cho cái chết bị chiến thắng bởi sự hy sinh. biểu h́nh chữ T này được dùng nhiều trong Cựu Ước với h́nh ảnh Isaac bị trói vác lên đống củi, là h́nh ảnh con dao mà cánh tay Abraham đưa cao bị thiên thần giữ lại, là h́nh ảnh của Moise đưa gậy trên biển đỏ để rẽ lối, là cột mây, cột lửa dẫn đường cho dân Do Thái trong hoang địa. Trong Tân Ước những h́nh ảnh đó biểu lộ trong lúc Đức Giêsu chữa lành bệnh tật, lúc Chúa Giêsu vác Thánh Giá lên Núi Sọ. Thánh Giá h́nh chữ T lúc con người bị treo lên và gục đầu trút hơi thở phó nộp Thần Khí.
Cây Thánh Giá với một thanh ngang, là cây
Thánh Giá của bốn Phúc Âm. Bốn cành của cây Thánh Giá là chỉ bốn yếu tố bị suy
sụp của con người bởi tội lỗi (Ư chí – lư trí – thân xác – tinh thần), bốn cánh
của Thánh Giá là biểu thị cho bốn phương nhân loại và muôn loài hướng về đó. Cây
Thánh Giá được cắm dưới đất mang biểu h́nh của đức tính mọc lên từ đất, “Tín
nghĩa ân t́nh nay hội ngộ, hoà b́nh công lư đă giao duyên. Tín nghĩa mọc lên từ
đất thấp, công lư nh́n xuống tự trời cao” (Tv 85, 11 -12). Chiều cao hướng lên
biểu trưng sự quy hướng thuộc về: “Mảnh hồn này khát khao ṃn mỏi mong tới được
khuôn viên đền vàng. Cả tấm thân con cùng là tấc dạ
những hướng lên Chúa Trời hằng sống mà hớn hở reo mừng” (Tv 84, 3). Chiều ngang
của Thánh Giá được diễn tả t́nh thương của Thiên Chúa bao bọc: “ĐỨC CHÚA, Thiên
Chúa của ngươi đang ngự giữa ngươi, Người là Vị cứu tinh, là Đấng anh hùng. V́
ngươi, Chúa sẽ vui mừng hoan hỷ, sẽ lấy t́nh thương của Người mà đổi mới ngươi.
V́ ngươi, Chúa sẽ nhảy múa tưng bừng” (Xp 3, 17). Chiều dài của Thánh Giá là
biểu thị sự kiên nhẫn của Thiên Chúa: “Chúa không chậm trễ thực hiện lời hứa,
như có kẻ cho là Người chậm trễ. Kỳ thực, Người kiên nhẫn đối với anh em, v́
Người không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người đi tới chỗ ăn
năn hối cải”. (2Pr 3, 9). Cây Thánh Giá Hy Lạp có bốn cánh bằng nhau, biểu thị
h́nh vuông nằm nội tiếp trong h́nh tṛn, diễn nghĩa Trời cao che chở nâng đỡ
phận người. Cây Thánh Giá La tinh chia chiều dọc thành hai phần không đều, theo
kích thước của một con người chịu treo trên Thánh Giá. M Didron đă ghi nhận:
“Đây là một cây tuyệt diệu, một cây được lư tưởng hóa, một cây trở thành hiện
thực. Từ một giá treo cổ, người Hy Lạp đă làm thành một hoa văn”.
Cây Thánh Giá với hai thanh ngang thường có khắc ở thanh ngang ở trên lời nhạo báng Của Philatô: Giêsu Nazareth, vua người Do Thái; thanh ngang ở dưới là thanh trải ngang hai cánh tay Chúa Giêsu. Cây Thánh Giá này được gọi là cây Thánh Giá Lorraine, trong thực tế th́ cây thánh giá này xuất phát từ Hy Lạp.
Cây Thánh Giá với ba thanh ngang là chỉ về phẩm trật của Giáo Hội, ứng với ba loại mũ: Giáo Ḥang (Tiare), mũ Hồng Y (chapeau) và mũ Giám Mục (mitre). Từ thế kỷ thứ XV, Giáo Ḥang đeo Thánh Giá ba thanh ngang, Hồng Y và Tổng Giám Mục đeo Thánh Giá hai thanh ngang và Giám Mục đeo Thánh Giá một thanh ngang.
L.m Giuse Hoang Kim Toan