|
Dù
xưa nay, nuớc vẫn được nh́n nhận như là một phần trong diễn
tŕnh sinh hoạt thần thiêng với một giá trị biểu tượng cao trong
các truyền thống tôn giáo, nhưng ngày nay, những cái nh́n sâu
sắc của khoa học đă giúp chúng ta có những đánh giá mới đối với
vai tṛ của nước trong tư cách nguồn suối và duy tŕ sự sống.
T́nh trạng mỗi ngày một xấu đi và thiếu thốn nước trên thế giới
có liên hệ gắn bó với việc con người càng ngày càng không c̣n
coi nước như nguồn suối nữa, trái lại càng ngày họ càng có
khuynh hướng coi nước như một tiện ích cần khai thác hơn là một
hồng phúc của đời người. Việc làm cho mối liên hệ ra méo mó như
thế không những đem hại lại cho sông ng̣i biển khơi của ta, mà
c̣n làm giảm cảm thức của ta về chính bản sắc ḿnh, bởi v́ càng
ngày ta càng làm ḿnh trở nên xa lạ với chính thế giới vật lư
của ta.
Bài
này khảo sát nhiều khía cạnh biểu tượng của nước, mời gọi ta suy
nghĩ sâu sắc hơn mối liên hệ giữa ta và nước cũng như sự liên
thuộc căn để giữa mọi h́nh thức của sự sống. Ta được mời gọi
khám phá lại cả hai ư nghĩa thiêng liêng và vật lư của nước, để
nh́n nhận lại các hệ luận đối với tính bí tích và tính công
b́nh, và bắt đầu giao ḥa diễn tŕnh phục hồi cả sông ng̣i lẫn
tâm hồn ta.
Nước: Nguồn Suối Sự Sống
Không có nước, không có sự sống. Đó là chân lư mà mọi người
chúng ta đều đă nhờ lương tri mà biết ít nhiều. Sự sống là một
hiện tượng có căn cơ nước. Mọi sinh vật đều gồm phần lớn là
nước, dù sống ở đâu. Chín phần mười thể tích cơ thể ta là nước,
trong đó máu có tỷ lệ muối gần như tỷ lệ của đại dương trong đó
sự sống lần đầu tiên xuất hiện. Cơ thể ta v́ vậy được miêu tả
như “những gịng sông khuôn đúc”; trong khi sông ng̣i của ta
được miêu tả như mạch máu sống của địa cầu.
Ta thấy nước tượng trưng cho việc khởi đầu sáng thế nơi rất
nhiều truyền thống tôn giáo khác nhau. Trong tŕnh thuật sáng
thế của Do Thái và Kitô giáo, thần khí Thiên Chúa bay lượn trên
mặt nước với ư muốn dự ứng. Không phải chỉ là tài nguyên thiên
nhiên đơn thuần, nước có ư nghĩa vượt quá tính vật lư nhiều lắm.
Nước, từng đóng vai biểu tượng mạnh mẽ và sâu sắc trong các nghi
thức và nghi lễ của nhiều tôn giáo, đă tạo nên những sức mạnh
thiêng liêng trong cuộc sống con người. Các thánh đường từng
được xây gần những giếng nước và có khi ngay trên những giếng
nước ấy nữa. Niềm tin của con người vào tính thánh thiêng của
nước đă sống rất dai trong các nghi thức rửa tội và rửa tay.
Không một yếu tố nào được Thánh Kinh nhắc đến nhiều bằng nước;
nước chiếm vị thế trung tâm trong trí tưởng tượng nhân bản và
trong ư thức tôn giáo. Không yếu tố nào chung hơn trong chu kỳ
sống, nhưng ngày nay, xem ra không yếu tố nào dễ bị thương tổn
hơn nước.
Sự việc đang thay đổi. Những lời ‘Ta đặt các ngươi trước sự sống
và sự chết… nên các ngươi hăy chọn sự sống’ (ĐNL 30:19: đây là
những lời Gia Vê phán với Maisen) ngày nay hết sức đúng theo
nghĩa đen. Nước, biểu tượng cho sự sống, hiện đang đem sự chết
lại cho nhiều sinh vật, kể cả nhân bản hay không nhân bản. Mỗi
tám giây đồng hồ, lại có một trẻ em chết v́ những chứng bệnh do
nước đem lại, và con số này ngày một gia tăng. Ta nghe những lời
ta thán về ch́, về ô nhiễm trong nước thải, về clôrin, về tảo
xanh thẫm (blue green algae) v.v… Ngày nay, nh́n vào bất cứ khu
vực nào trên thế giới, ta cũng thấy có vấn đề liên quan đến nước
- hiếm nước, cạn nước, ô nhiễm, thiếu vệ sinh, mưa giảm v́ hiện
tượng địa cầu ấm lên, những dự án dựng đập lớn để cản sông, tư
hữu hóa, phân phối không đồng đều, tránh chấp giữa hai nước, xử
dụng phung phí và quản trị kém. Một phúc tŕnh gần đây của Liên
Hiệp Quốc, một phúc tŕnh đầy đủ nhất xưa nay về cuộc khủng
hoảng nước trên thế giới, đă vẽ ra một bức tranh ảm đạm khi nói
rằng nguồn dự trữ nước vốn đă bị thu nhỏ nay đang biến dần đi
cách nhanh chóng, đe dọa sức khỏe, môi trường và sự ổn định
chính trị. ‘Trong các khủng hoảng mà loài người chúng ta đang
phải đương đầu, khủng hoảng nước là khủng hoảng nằm ngay tại cốt
lơi cuộc sinh tồn của ta và cuộc sinh tồn của hành tinh ta ‘
(Koichiro Matsuura, tổng giám đốc Cơ quan Giáo dục, Khoa học và
Văn hóa LHQ). Khắp nơi trên thế giới, có những con sống lớn
không vươn tới biển được và do đó, mực nước cứ mỗi ngày một
xuống dần. Đến năm 2025, hai phần ba dân số thế giới sẽ không đủ
nước dùng cho những nhu cầu cơ bản.
Không biết từ lúc nào chúng ta bỗng quên mất bài học từng học
được ở nhà trường rằng nước ngọt trên trái đất vốn hữu hạn và
giới hạn, nó chuyển dịch trong một chu kỳ thiết yếu cho việc duy
tŕ mọi h́nh thức sống và sẽ lâm nguy lúc ta sử dụng nó quá cái
tỷ lệ nó có thể được tái tạo. Tính trung b́nh, một phân tử nước
hiện diện trong không khí chừng mười ngày sau khi bốc hơi: một
giọt đi khắp thế giới, rơi xuống Anh, Ấn, Úc. Một phân tử nước
hiện có trong suối địa phương của bạn, trước đây, rất có thể đă
có trong một viên đá băng hay từ thân thể một con khủng long nào
đó. Nước nối kết ta qua không và thời gian. Nó thổ mộ quanh khắp
trái đất trong những chu tŕnh nước vĩ đại bằng cách bốc hơi vào
bầu khí quyển, róc rách qua đất sâu, trườn ḿnh vào những khối
nước khổng lồ - nó lưu lại vắn tắt nơi các sinh vật trong chu kỳ
lưu chẩy bất tận.
Tương Quan của Ta với Nước: Quà phúc hay Tiện ích?
Xa rời các nguồn suối nước, ta mất đi cảm thức kính trọng đối
với các gịng sông, đối với hoạt động phức tạp và không thể thay
thế được của đầm lầy thiên nhiên (natural wetland), và đối với
mạng lưới sự sống chồng kết lên nhau mà nước có nhiệm vụ duy
tŕ. Dù trong lịch sử, các nguồn nước rất đáng kính trọng và
kính sợ, người nào trong chúng ta vốn quen thuộc với nước ṿi
cũng đều quên mất rằng trước khi chẩy qua ống dẫn, nước là một
quà tặng của thiên nhiên. Nước, một thứ hết sức thiết yếu cho sự
sống, là biểu tượng cho mọi quà phúc của trái đất mà ta coi
thường gọi là ‘tài nguyên thiên nhiên’, nhưng thực ra chính là
quà phúc đầu hết của Thiên Chúa. Ấy thế nhưng ngày nay, cái
quyền tự trị của con người, dù hết sức hạn chế, đă và đang đảm
nhiệm một vai tṛ ngày càng gia tăng trong việc quyết định phải
phân phối ra sao và phân phối cho ai phúc lợi được hưởng nguồn
nước trong lành.
Một số các nhà môi sinh học Phương Tây cho rằng chính dân số
phải chịu trách nhiệm về cơn khủng hoảng nước trên thế giới hiện
nay, mặc dù người nghèo trên thế giới là những người xử dụng
nước tằn tiện nhất. Trong khi dân các nước giầu, như Úc chẳng
hạn, xử dụng đến 500 lít nước một ngày, th́ tại các nước nghèo,
là những nơi không có nước ṿi, mức tiêu thụ dưới 5 lít một ngày
là chuyện thường - gần như một thứ tối thiểu tuyệt đối xét theo
sinh học. Các quốc gia giầu không những sử dụng nước một cách
phí phạm, mà c̣n tiêu thụ những khối nước vĩ đại “một cách không
trông thấy” trong sản xuất kỹ nghệ (cần đến 400,000 lít nước mới
chế tạo ra một chiếc xe hơi).
Người nghèo trên thế giới cũng dễ trở thành nạn nhân cho các áp
lực thô bạo của các công ty đa quốc muốn tư hữu hóa, tiện ích
hóa và hướng nước chẩy đi nơi khác. Kinh nghiệm cho thấy việc
bán nước trên thị trường, như trong trường hợp những dự án thủy
đập lớn, thường chỉ cung cấp nước cho những ai có khả năng trả
tiền, nghĩa là những thành phố và cá nhân giầu có, cũng như
những kỹ nghệ nhiều lợi nhuận. Khi Ngân hàng Thế giới và Quĩ
Tiền tệ Quốc tế làm áp lực bắt người ta phải thả nổi và tư hữu
hóa như là giải pháp cho cơn khủng hoảng nước và khư khư đ̣i
phải tư hữu hóa các dịch vụ về nước làm điều kiện tiên quyết
trong việc cung cấp tài khoản, th́ tương lai của một trong những
tài nguyên sinh tử nhất trên thế giới sẽ được quyết định bởi
những người được lợi nhất nhờ quá sử dụng và lạm dụng nó (xem
http://www.watermattersaustralia.org). Việc tiện ích hóa nước
làm nó chỉ c̣n có giá trị về phương diện thương mại mà thôi.
Trong các cộng đồng vốn coi nước là thánh thiêng, giá trị chân
thực của nước hệ ở vai tṛ và chức năng làm lực sống
(life-force) cho động vật (gồm cả con người), cây cỏ và hệ sinh
thái.
Nước và Bản nhiên ta
Muốn cứu nguồn nước, nguyên những phân tích phí tổn/lợi ích
(cost/benefit), có tính hoàn toàn kinh tế hay thị trường không
thôi, chưa đủ. Giáo sư B.V. Mishra, sáng lập viên Chiến Dịch Làm
Sạch Sông Hằng, cho hay: “Nước là sự sống… điều nẩy ra trong tâm
trí tôi là không yêu thương và kính trọng sông hồ, bạn không thể
cứu được chúng” (lên tiếng tại Đại hội Sinh viên Oz Green,
Varanasi, Ấn Độ).
Việc người Âu Châu đặt chân lên đất Úc không những đem lại những
tập tục canh nông nguy hại, mà c̣n đem đến những quan niệm hết
sức đặc thù về quyền sở hữu và tư hữu. Trên quan điểm Thổ Dân,
quan niệm của người Úc Da Trắng về quyền sở hữu đất đai và nguồn
nước là một điều không thể tưởng tượng nổi. Làm sao dung hợp
việc kính trọng thiên nhiên với việc sở hữu nó cho được? Làm sao
bạn có thể sở hữu một vật mà chính bạn là một thành phần, mà lại
là một thành phần rất nhỏ bé ? Thế giới tự nhiên, đúng hơn, là
một cái ǵ đó chúng ta thuộc về, như một gia đ́nh. Chúng ta
không sở hữu nước, chúng ta là nước. Val Plumwood khuyên ta nên
có một quan niệm mới về sở hữu, một quan niệm có tính phê phán
triệt để đối với phương thức của Lock, một phương thức hiện xây
nền cho chủ nghĩa tư bản hiện đại, nhằm kính trọng thiên nhiên
và nh́n nhận những lợi ích của thiên nhiên như những yếu tố hiện
hữu và tác nhân tích cực đóng góp muôn h́nh muôn vẻ vào cuộc
sống hằng ngày của ta (Environment Culture, London: Routledge,
2002, p.214).
Về phương diện này, ta có thể học được rất nhiều nơi người Thổ
dân Úc trong việc tạo ra một bản sắc sinh thái đặt căn bản trên
những mối dây liên kết giữa cộng đoàn, đất đai và tổ tiên. Nền
văn hóa Da Trắng Úc đă đánh mất các mối liên kết ấy với những
khu vực đất đai và nguồn nước đặc thù từng xác định ra bản sắc
của cả cộng đoàn lẫn các cá nhân.
Deborah Bird Rose đề cập đến cấu trúc văn hóa của người Thổ dân
Úc về chủ thế tính. Đất nước là một mạng lưới (mattrix) các mối
liên hệ, với nhiều chiều kích, bao gồm con người, thú vật, cỏ
cây, mộng mơ (dreamings), địa hầm, đất đai, khoáng sản, nước,
nước mặt và không khí:
“Thành
thử ra bạn không thể tự ḿnh bước vào cơi hiện sinh; mỗi sinh
vật đều tự trở nên chính ḿnh trong thế giới này nhờ sự săn sóc
của các sinh vật khác: chính trong sự sống của họ mà sự sống của
riêng bạn được khai mở. Và dù không cá nhân nào nối kết với mọi
sinh vật khác, nhưng sự chồng kết lên nhau của các nối kết kia
đă duy tŕ được cả một mạng lưới các mối liên thuộc lẫn nhau…
Các sinh vật thực sự cùng đứng và cùng ngă với nhau. Như thế,
diễn tŕnh sống mạnh mẽ trên thế giới này đặt căn bản trên việc
nuôi dưỡng các mối liên hệ trong đó chủ thể tính của ta khai mở”
(Indigenous Ecologies and an Ethic of Connection, đăng trong
Global Ethics and the Environment London: Routledge,1999 p.181)
Trong một thế giới càng ngày càng di động ngày nay, vấn đề đối
với người Tây Phương là nh́n nhận có sự gẫy đổ trong các liên
chủ thể tính, và do đó, phải cố gắng lập lại sợi dây nối kết ta
với khu vực hiện sống.
Nước như Viễn ảnh Thực tại
Trước và trên hết, nước biểu tượng cho sự nối kết của ta, nhắc
ta nhớ rằng ta không tách biệt với Chúa cũng như với nhau. Hạn
từ tôn giáo, dịch từ religion, vốn do gốc re-ligare có nghĩa là
cột lại các mối dây nối kết ta với nhau, với thế giới bên ngoài
con người và với Thiên Chúa. Nối lại kiểu này có nghĩa là phải
cởi mở đối với sự hiệp thông thần thiêng, một hiệp thông cần
phải tham dự song hành với các nhu cầu của ta trong việc phát
triển và sinh tồn thực tiễn nhằm đạt tới một cách hiện hữu hoàn
toàn nhân bản. Sự cởi mở này phải là một chiều kích quan trọng
trong việc ta thay đổi cảm thức của ta về bản sắc ḿnh và t́m
cách hàn gắn sự gẫy đổ và ra xa lạ của ta đối với thế giới. Khi
đặt vấn đề về sự thành công của ‘tiến bộ’ trong thế giới hiện
đại, ta cũng phải tra vấn vị thứ của nó muốn là quan ṭa duy
nhất phán quyết về ‘khả tín tính’ của các thế giới ư nghĩa khác
(Frank Fletcher, Linh Đạo Có Cần Căn Rễ Cụ Thể Nào Trong Đất Đai
Không? Trong Compass số 33 (1999) tr.33).
Một trong những hậu quả của việc tiện ích hóa thiên nhiên trong
thời ta là nó đă làm mất đi cái chiều kích kính sợ (numinous)
trong thế giới, một sự kiện có liên hệ mật thiết với việc con
người tự cắt đứt ḿnh khỏi các sinh vật và nơi chốn khác. Văn
hóa Tây Phương rất kỳ dị. Phần lớn các dân tộc khác đều coi thế
giới như một cái ǵ thần thánh. Đối với Thổ Dân Úc, cảnh địa và
muôn loài trong đó đều có ư nghĩa và ngôi vị, và một số nơi đặc
thù c̣n có phẩm tính thần thánh và đáng kính sợ. Nói đến ư nghĩa
biểu tượng hay nhiệm tích của thế giới tự nhiên là nói rằng thế
giới tự nhiên ấy có một giá trị sống vượt quá các nhu cầu kinh
tế, xă hội hay cả nhân bản nữa. Trong xă hội kỹ thuật hiện đại
với đạc điểm văn hóa ‘thuần lư’ trổi vượt của nó, ta thường bỏ
qua khía cạnh thực tại trên và coi thế giới như một thực tại
trung lập, trần tục, chỉ có giá trị về phương diện tiềm năng
kinh tế. Hậu quả là, các thế giới quan trong đó sức mạnh của
biểu tượng là điều cốt yếu đối với nghi lễ, các thần thoại và
mối liên hệ giữa người với đất đai, dù hết sức thú vị đối với
nhiều người Tây Phương, thường vẫn không được tin là có khả năng
diễn tả ‘thực tại’.
Thế nhưng, ngay trong các truyền thống văn hóa và tôn giáo
Phương Tây, nhiều nhà văn, từ nhiều lănh vực khác nhau, từng t́m
cách chống lại chủ trương trên. Trong các Thánh Vịnh, cảm nghiệm
về thiên nhiên, về núi non, sông ng̣i và thú vật, dù không được
coi là ‘thần thiêng’ nhưng hết sức sinh động, tương hành như
những sinh vật đối với Đấng Hóa Công của chúng. Thi sĩ Gerard
Manly Hopkins nói đến khả năng trực giác được cá thể tính vừa
độc đáo vừa nhiệm tích của mỗi vật thể đơn độc, qua đó các vật
thể toát ra một ư nghĩa đối với những quan sát viên ‘có mắt’
cũng như cái năng lực nối kết, sáng tạo gắn bó các nhóm vật thể
lại với nhau, một hiệp thông cảm nhận được như vuợt quá cả gia
đ́nh nhân loại mà vươn tới những hữu thể khác vốn chia sẻ chung
sự sống. Một số người khác chắc chắn cũng sẽ có những cảm nghiệm
nói lên cùng một cái nh́n như thế.
Gần đây thôi, niềm tin vào ‘nước hằng sống’ đă khiến các giám
mục vùng Sông Columbia nói rằng ‘chúng tôi không rửa tội trong
nước ứ đọng, nhưng là nước chẩy gịng. Nước sống động’ (The
Columbia River Watershed: Realities and Possibilities – A
Reflexion in Preparation of a Pastoral Letter of the Bishops
from the Columbia River Basin, 1999). Thư mục vụ của các ngài
mời gọi người ta suy nghĩ sâu sắc hơn và kêu gọi người Công giáo
cũng như người khác hăy rèn đúc một ư thức mới về môi sinh và
linh đạo, bằng cách gọi sông ng̣i và nguồn nước là thành phần
của ‘cấp dưỡng bí tích’ (sacramental commons). Điều ấy nói lên
niềm tin Kitô giáo rằng trái đất là không gian thần thánh chung,
một sáng tạo của Chúa nhằm thỏa măn nhu cầu của mọi tạo vật do
Ngài dựng nên. Ư niệm bí tích từng được miêu tả là ‘những gặp gỡ
bất ngờ giữa những hiện hữu sống động, cả thần thiêng lẫn nhân
bản, tại đây và lúc này’; thành ra nói rằng sông ng̣i là một
‘cấp dưỡng bí tích’ có nghĩa là con người có thể cảm nhận ra
Thiên Chúa trong sáng tạo, bên ngoài khung cảnh thánh đường
chính thức. Quan niệm này cũng có nhiều điểm chung với linh đạo
của người Thổ dân Mỹ.
Nước Như Biểu Tượng Đạo Đức
Thiên Chúa nối kết với cuộc sống hằng ngày của ta ngày nay ra
sao và ở nơi nào? Câu hỏi ấy mời ta bước vào một diễn tŕnh sáng
tạo can dự đến toàn diện con người ta - cả xúc cảm lẫn tri thức.
Trong tư cách một cộng đoàn giáo hội, ta sẽ rút ra một số ẩn dụ,
h́nh ảnh và ‘huyền thoại’ từ chính truyền thống đức tin của
ḿnh. Những thứ ấy có thể đem sinh khí lại cho các niềm tin của
ta, tạo nên một ngôn ngữ thi ca trong đó, nhân bản và nhiên bản
thường được cột chặt với nhau bằng biểu tượng. Có rất nhiều dụ
ngôn trong truyền thống của ta, là những truyện kể nói lên mối
tương quan giữa Thiên Chúa và trần thế, làm ta ngỡ ngàng ra khỏi
cái nh́n phiến diện của ḿnh để thoáng nh́n ra một cách thơ mộng
cái bản chất hồng ân, vô điều kiện trong các mối tương giao của
Thiên Chúa với gian trần. Chúng biến đổi cái nh́n của ta đối với
những ǵ thánh thiêng bằng cách sử dụng một thứ ngôn từ phá đổ
hoàn toàn cái ư niệm cho rằng một miêu tả đơn độc nào đó vẫn có
thể nói lên trọn vẹn thực tại ‘hiện hữu’. Ngôn từ này chuyển
giao một thứ ư nghĩa đặc thù, thông truyền một thứ ư thức đặc
biệt về chính con người chúng ta.
Các
biểu tượng trong Thánh Kinh và Thánh Truyền của ta, khi đan kết
vào chủ đề ‘nước hằng sống’, có khả năng tương hành với thực tại
phức tạp của đời sống con người và các thách đố của nó để cung
cấp định hướng cho ta. Chúng gợi lên một h́nh ảnh làm phát khởi
ư nghĩ và sau đó lên khuôn dáng cho ư nghĩ ấy, bằng cách giữ cho
các cái nh́n nghịch lư của ta về ư nghĩa luôn ở thế căng thẳng
sáng tạo nhằm kích thích các lớp lang hiểu biết vốn liên hệ qua
lại với nhau, trong một h́nh thức kiến thức có tính tham dự. Đức
tin ta được nuôi dưỡng qua những biểu tượng sống động như thế
giúp ta cảm nghiệm được các kỳ diệu và mầu nhiệm trong khi các
cảnh giới bên trong và bên ngoài của ta cùng diễn tiến êm ả với
nhau.
Quan niệm nước như biểu tượng mời ta suy nghĩ sâu sắc hơn. Điều
ta hiểu được từ thiên nhiên là tất cả những ǵ hiện hữu đều cùng
hiện hữu (coexist). Điệu múa thực tại là ‘điệu múa muôn thuở của
năng lượng và nguyên tố’ trong một cộng đoàn mênh mông hữu thể.
Nước kể ta nghe một câu truyện: câu truyện về việc nối kết sâu
xa, liên lập căn để. Cùng với việc được kích thích thẩm lượng
các b́nh diện ư nghĩa sâu sắc hơn và nh́n ra nơi chốn phát xuất
ra các cảm nghiệm đau khổ hiện nay, ta cũng được mời gọi phá đổ
mọi thứ nhị nguyên tính vốn chia cách thánh thiêng với trần tục,
nhân bản với phi nhân bản, ta với họ, trong một cố gắng ḥa giải
với người khác và với toàn thể tạo vật.
Năng lực Chữa lành và Công lư của Nước
Đối với cơn bệnh tâm linh của xă hội ta hiện nay, biết t́m loại
‘thuốc chữa lành’ nào đây? Nhu cầu của đại đa số trên thế giới
đă quá rơ: sống trong cảnh nghèo, thiếu nước sạch và thực phẩm
thích đáng. Họ được người ta cho hay sự phong phú kinh tế sẽ cứu
họ ra khỏi t́nh trạng ấy. Trong những xứ giầu là những nơi chán
chường của cải, hoài mong thực sự không hẳn là có thêm tiền,
nhưng là những tương giao và cộng đoàn đúng nghĩa. Mất bản sắc
và ra xa lạ với người khác cũng như với thế giới tự nhiên đang
gặm nhấm hết cuộc sống con người. Ta thấy rơ các triệu chứng của
nhu cầu muốn được cứu vớt này qua các đổ vỡ trong các mối tương
giao và cộng đoàn, cả trên b́nh diện địa phương lẫn hoàn cầu;
nhu cầu công lư, tha thứ và hoà giải; và thách đố sống một cách
có thể kéo dài được (sustainably), trong cảm thương và hiểu biết
sâu sắc, trên cái tinh cầu mỏng ḍn và quá bị lạm dụng này.
Tương lai hệ ở mối liên hệ mới với môi trường tự nhiên. Nó đặt
ra những vấn nạn về ư nghĩa sau cùng cũng như các vấn nạn về
công lư: phải tương giao thế nào đối với nhau và đối với đất đai
sông nước. Không chỗ nào sự bất b́nh đẳng lại rơ bằng t́nh trạng
nước trên thế giới hiện nay: hơn 1 tỷ 2 dân số thế giới và rất
nhiều sinh vật khác không có nước sạch để dùng. Sự kiện thế giới
vẫn c̣n bị phân chia giữa những kẻ sống dư thừa và những người
thiếu thốn ngay cả những cái căn bản để sinh tồn hàng ngày là
trở ngại chính trong việc xây dựng một xă hội thực sự nhân bản.
Là những người đàn ông và đàn bà có đức tin, ta cần duy tŕ cái
nh́n soi mói trước điều xem ra quá bất thường kia, luôn luôn
phải tập chú vào những con người đang sống và các sinh vật khác,
vào hệ sinh thái của ta, nhất là vào những nguồn nước thánh
thiêng nhưng hư hại trên thế giới hiện nay. Thay v́ đến những
vùng mệnh danh là hoang địa để t́m ra mảnh đất chung, tốt hơn ta
nên đặt đức tin của ḿnh trọn vẹn giữa những gịng sông xuống
cấp, giữa những phế thải nguy hại, những mảnh đất hóa muối,
những cộng thể thủy sinh nhiễm độc (poisoned aquifers), những
rừng cây thổ địa bị khai hoang, những đại thương xá và những lối
sống ghiền dầu. Theo Bird-Rose, ‘Bám sâu vào sự sống là phải từ
bỏ việc hưởng thụ trên nỗi đau của người khác’ (Indigenous
Ecologies and an Ethic of Connection, 185). Đối với Vandana
Shiva, tác giả và là nhà tranh đấu cho môi sinh, tất cả chúng ta
‘đều khát thứ nước giải thoát và đem lại cho ta sự sống’ cả theo
nghĩa hữu cơ lẫn nghĩa tâm linh. ‘Mỗi người chúng ta đều có vai
tṛ tạo khuôn cho tŕnh thuật sáng tạo ra tương lai. Mỗi người
chúng ta đều có trách nhiệm đối với kumbh tức b́nh nước thánh
thiêng (xem Water Wars: Privatization, Pollution and Profit,
Cambridge: South End Press, 2002, tr.139.
Nước Thánh thiêng và Phàm tục?
Đại
dương, sông ng̣i và các nguồn nước khác giữ những vai tṛ quan
trọng như các ẩn dụ cho mối liên hệ giữa ta và địa cầu. Để đảm
bảo được việc bảo vệ chúng, ta cần phải t́m lại điều thánh
thiêng và những cái tầm thường, và nh́n ra giá trị của nước cả
trong ư nghĩa tâm linh nữa. Căn cứ vào sự lệ thuộc của ta vào
nước và việc tôn giáo lễ nghi hóa nước, thiết nghĩ sẽ hữu ích
nếu ta biết suy tư về việc ta tách biệt nước theo các chiều kích
thánh thiêng và phàm tục. Ta rất hay tách biệt cái thánh thiêng
khỏi cuộc sống hàng ngày của ta và do đó cái cuộc sống hàng ngày
kia đă bị phá giá và rất dễ bị khai thác.
Thần học của ta cần phải chú trọng tới tính nối kết, tính đa
dạng và tính thánh thiêng của mọi thứ nước và mọi hữu thể. Tính
hiệp nhất của sự sống trong cái đa dạng của hữu thể (mà ta có
thể gọi là đa sinh phức – biodicersity) được duy tŕ nhở sự độ
lượng của các biến cố hồng phúc trong một quân bằng đầy tính
năng động của sự sống trên địa cầu giữa toàn bộ thánh thiêng. Ta
thấy rằng ‘biến cố hồng phúc thánh thiêng trong cuộc sống ta
không phải chỉ xẩy ra một lần là hết trong cái ṭa nhà hay định
chế được ghi dấu là “thánh thiêng”. Ngược lại, nó được tỏ hiện
trong các mối liên hệ không ngừng diễn biến của sống-chết-sống
vốn nâng đỡ ‘bản thân’ từng người và chính bên trong toàn bộ các
mối liên hệ ấy mà hết thẩy chúng ta đều cùng hiện hữu (xem
Primavesi, Sacred Gaia, 168). Hiểu được sáng thế cách sâu sắc,
ta sẽ nhận ra sự hoà nhập của cái thường nhật vào cơi thánh
thiêng và sẽ từ khước việc chối bỏ tính cách thánh thiêng của
bất cứ lănh vực sự sống nào.
Uống Hợp Nguồn Nhiệm Tích Công Lư
Một khi đă nh́n thấy bản thân ta và mọi sự sống khác có liên lập
căn để với nhau ờ nhiều b́nh diện như trên, ta sẽ thay đổi cái
nh́n có tính cứu đời và việc thay đổi này đem lại nhiều hệ quả
sâu sắc đối với hành động và đạo đức. Trong khi chữa trị sông
ng̣i và nguồn nước, ta cũng cùng một lúc khởi sự chữa trị chính
trái tim ḿnh. Ta thức giấc trước điều ḿnh đă biết, trước túi
khôn cổ xưa: ta muốn gọi tên thế giới này là thánh. Trong diễn
tŕnh này, ta sẽ tái xác định sự giầu có và các giá trị của ta,
các khoái vui và mục tiêu của ḿnh, và chính cả bản sắc ta nữa.
Với sự chú tâm của ta vào nước, hai gịng sinh đôi nhiệm tích và
công lư sẽ cùng lưu chẩy. Là các Kitô hữu ngày nay, ta có cái
thách đố phải chăm sóc và bảo vệ các nguồn nước, cả trên b́nh
diện địa phương lẫn hoàn cầu, để chúng măi măi là ‘nước hằng
sống’, nguồn mạch sự sống cho toàn bộ sáng thế. Đă đành là cần
có những thay đổi lớn lao về cơ cấu, định chế và chính trị.
Nhưng mỗi người chúng ta, những người vốn nâng đỡ các hệ thống
kinh tế, bầu cử các chính phủ, ta không thể im lặng trước các
bạo lực đang xẩy đến cho người khác, các sinh vật khác và cho cả
hành tinh ta. Lúc nào ta cũng có lựa chọn: không nên tham lam,
phải hành sử kính trọng, hiện diện, chăm chú và công b́nh. Các
thay đổi lớn lao có thể xẩy tới từ hiệu quả tích lũy dần dần do
vô số những hành động nhỏ nhưng cương quyết của những con người
tầm thường. Ta cần kiên nhẫn, hăng say và khiêm hạ để hiểu ra
rằng một hành vi chữa trị đơn độc đi chăng nữa cũng sẽ không bao
giờ ra vô ích.
Trong thuật ngữ Kitô giáo, nước được sử dụng như như biểu hiệu
của một diễn tŕnh biến đổi và trở về nội tâm. Từ giá trị biểu
tượng ấy, mà có lời mời phải hoàn toàn ư thứ được tầm quan trọng
của hồng ân quí giá này, một hồng ân vốn hộ phù mọi chu kỳ vĩ
đại của sự sống. Các khoa học của ta ngày nay cũng cả quyết rằng
tất cả chúng ta đều dự phần vào với nhau. Cơ thể ta không chỉ
giới hạn ở những cái chứa bên trong da ḿnh: sự sống chỉ là một.
Trong Thánh kinh Kitô giáo, Sông hay Ṿi nước hằng sống, trong
thị kiến Giêrusalem Mới (Kh 2), là một trong những h́nh ảnh
chính xưng tụng ơn cứu độ của Thiên Chúa. Ngài mời gọi ta đến và
tiếp nhận nước sự sống ‘miễn phí’, nghĩa là như một hồng ân. Chủ
đề ‘nước hằng sống’ trong thị kiến này không những chỉ có nghĩa
thần học hay thiêng liêng, nhưng cũng nói đến sự sống của nước
sông ng̣i, đầm lầy, và các nguồn nước sâu trong đất khác. Ta có
thể cản ngăn nước sông bằng các đập nhân tạo thế nào, th́ nước
thiêng liêng bên trong ta cũng có thể bị ngăn cản và trở thành
khô cứng, khiến ta không c̣n biết ǵ tới các biến cố hồng phúc
đem lại sự sống cho ḿnh nữa. Biểu tượng nước hằng sống này, một
biểu tượng rút ra từ việc thánh kinh nối kết nó với sự mầu mỡ và
khôn ngoan, sẽ đem lại sức mạnh và nâng đỡ ta trong việc chăm
sóc các nguồn nuớc trên thế giới và tăng cường việc ta cam kết
đem công lư và chữa trị lại cho toàn bộ sáng thế.
Khi ta uống hợp nguồn nhiệm tích và công lư bằng cách để nước
lưu chẩy tự do, ta sẽ trở thành những máng chuyển ơn thánh, lên
khuôn cho lịch sử sáng tạo của tương lai. Lúc ấy ta sẽ thấy được
là trong mọi nguồn nuớc của thế giới có con sông sự sống chẩy ra
từ ngai ṭa Thiên Chúa.
(Viết theo Sandra Menteith, The Flow of Life: Water as
Ethical Symbol, đăng trong The Australasian Catholic Record,
July 2004, Volume 81, No 3.) |